Mục lục
Một số vấn đề pháp lý về áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại 2005
TÓM TẮT
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một loại chế tài trong thương mại và là hệ quả của nguyên tắc pacta sunt servanda – buộc các bên trong hợp đồng phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên kia. Về cơ bản, bên bị vi phạm áp dụng chế tài này nhằm đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện, đạt được mục đích mà các bên hướng đến vào thời điểm giao kết hợp đồng. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích một số khía cạnh pháp lý về (i) điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và (ii) quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác trong thương mại nhằm đóng góp cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về chế tài trong hoạt động thương mại.

Xem thêm:
- Áp dụng quy định pháp luật về sự kiện bất khả kháng và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong bối cảnh dịch Covid-19 tại Việt Nam – ThS. Trần Chí Thành & ThS. Bùi Thị Quỳnh Trang
- Sửa đổi các quy định về Hợp đồng kinh doanh bất động sản trong Luật Kinh doanh bất động sản – TS. Lê Minh Hùng
- Hiệu lực của hợp đồng theo Công ước Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: “khoảng xám” cho xu hướng quay về áp dụng pháp luật quốc gia? – TS. Trần Thị Thuận Giang & ThS. Lê Tấn Phát
- Bàn về khái niệm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Điều 3 của Công ước Vienna 1980 – ThS. Lê Tấn Phát & Nguyễn Hoàng Thái Hy
- Về Điều 6 Công ước Vienna 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế – ThS. Huỳnh Thị Thu Trang & ThS. Lê Tấn Phát
TỪ KHÓA: Buộc thực hiện đúng hợp đồng, Tạp chí Khoa học pháp lý
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một loại chế tài trong hoạt động thương mại, được quy định tại Chương VII Luật Thương mại 2005[1] . Theo quy định tại khoản 1 Điều 297 Luật này, “buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh”. Như vậy, buộc thực hiện đúng hợp đồng là một loại chế tài cơ bản, theo đó bên vi phạm hợp đồng phải thực hiện đúng nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận vào thời điểm giao kết hợp đồng hoặc nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Theo quy định của Luật Thương mại 2005, bên bị vi phạm có thể áp dụng chế tài này theo các cách thức sau: (a) yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng; hoặc (b) dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện. Các cách thức áp dụng này được cụ thể hóa bằng các quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 297 Luật Thương mại 2005. Theo đó, việc yêu cầu bên vi phạm giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng (trong trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng) hoặc việc yêu cầu bên vi phạm phải loại trừ khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng (trong trường hợp bên vi phạm giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ kém chất lượng) đều là hành vi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của bên bị vi phạm theo cách thức yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng.
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng cũng được áp dụng theo hướng cho phép bên bị vi phạm dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện như được quy định tại khoản 3 Điều 297 Luật Thương mại 2005. Theo đó, bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; hoặc có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý. Với tính chất là một quyền của bên bị vi phạm, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng bởi bên bị vi phạm đối với hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm, mà không phân biệt vi phạm cơ bản hay vi phạm không cơ bản. Bài viết phân tích việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theohai nội dung chính: (i) điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và (ii) quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác trong thương mại
1. Điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Theo quy định tại Điều 297 Luật Thương mại 2005, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm, cho dù là vi phạm không cơ bản. Trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận miễn nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng của bên vi phạm trong một số trường hợp nhất định[2] . Tuy thỏa thuận về miễn nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng của bên vi phạm không được đề cập phổ biến trong hợp đồng của các bên cũng như không được quy định trực tiếp trong Luật Thương mại 2005, nhưng chúng tôi cho rằng vấn đề pháp lý này cần được đặt ra. Bởi lẽ việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng như quy định hiện hành, trong một số trường hợp, có thể không phản ánh đúng mục đích của việc áp dụng chế tài, cũng như có khả năng vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thiện chí, trung thực khi thực hiện hợp đồng của các bên. Về vấn đề này, bài viết phân tích một tranh chấp phát sinh từ một hợp đồng xây dựng liên quan đến yêu cầu áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về miễn nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng của bên vi phạm.
Công ty A (nguyên đơn) giao kết hợp đồng xây dựng với Công ty B (bị đơn) để tiến hành xây một tòa nhà cho bị đơn.Theo đó nguyên đơn chịu trách nhiệm cung cấp vật liệu cho công trình xây dựng. Một trong những điều khoản trong hợp đồng xây dựng quy định: “Tất cả các ống dẫn nước bằng sắt phải được mạ kẽm và được hàn với chất lượng đạt “ống dẫn tiêu chuẩn” của nhà sản xuất R (ống dẫn nước được lắp đặt phải là sản phẩm của nhà sản xuất R)”. Nguyên đơn đã lắp đặt ống dẫn nước chất lượng tương tự nhưng không phải của nhà sản xuất R. Khi bị đơn phát hiện ra sự khác biệt này đã yêu cầu nguyên đơn tháo gỡ toàn bộ các ống dẫn nước và thay thế bằng ống dẫn nước của nhà sản xuất R. Để làm được điều này yêu cầu phải dỡ bỏ toàn bộ phần tường đã xây cất bao bọc bên trên hệ thống ống dẫn nước – một công việc khó khăn và tốn rất nhiều chi phí. Nguyên đơn giải thích rằng hệ thống ống nước được lắp đặt có cùng chất lượng, quy cách, hình dạng và giá cả tương đương với ống dẫn nước nhà sản xuất R và yêu cầu bị đơn nghiệm thu công trình và thanh toán. Khi bị đơn từ chối thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn nợ, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thanh toán.
Trong trường hợp trên, có căn cứ cho thấy nguyên đơn đã vi phạm hợp đồng, cụ thể là vi phạm nghĩa vụ giao hàng phù hợp với hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật Thương mại 2005. Ống dẫn nước được giao bởi nguyên đơn không phải là sản phẩm của nhà sản xuất R, vì vậy được xác định là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo khoản 1 Điều 39 Luật Thương mại 2005. Việc bị đơn yêu cầu nguyên đơn tháo gỡ toàn bộ các ống dẫn nước và thay thế bằng ống dẫn nước của nhà sản xuất R là việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định tại Điều 297 Luật Thương mại 2005. Nếu theo quy định của Luật Thương mại 2005, bị đơn hoàn toàn có căn cứ để áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đối với hành vi vi phạm hợp đồng của nguyên đơn, cho dù là vi phạm cơ bản hay vi phạm không cơ bản. Như đã đề cập ở trên, bị đơn có quyền áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo các cách thức khác nhau: (a) yêu cầu nguyên đơn tháo gỡ toàn bộ các ống dẫn nước và thay thế bằng ống dẫn nước của nhà sản xuất R hoặc (b) bị đơn tự mình tháo gỡ và lắp đặt lại đúng ống dẫn nước theo hợp đồng (dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện).
Theo khoản 3 Điều 297 Luật Thương mại 2005, trong trường hợp bên vi phạm không khắc phục vi phạm, bên bị vi phạm có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý. Áp dụng quy định này, nếu bên bị vi phạm tiến hành việc tự tháo gỡ và lắp đặt lại đúng ống dẫn nước theo hợp đồng thì “chi phí thực tế hợp lý” hiểu trong ngữ cảnh này là chi phí thực tế hợp lý để thực hiện quyền đã nêu của bên bị vi phạm. Theo đó, chi phí thực tế hợp lý để tháo gỡ và lắp đặt lại đúng ống dẫn nước theo hợp đồng sẽ do bên vi phạm gánh chịu và khoản chi phí này rất lớn (có thể gấp nhiều lần giá trị của hàng hóa). Điều 297 Luật Thương mại 2005 không đặt vấn đề về thiệt hại phát sinh cho bên vi phạm khi bị áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, vì theo logic của điều luật này, bên vi phạm có hành vi vi phạm hợp đồng, do vậy thiệt hại cho chính bên vi phạm phát sinh từ hành vi vi phạm hợp đồng không được xét đến. Nếu vậy, việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng mà không cân nhắc đến mức độ thiệt hại mà bên vi phạm phải gánh chịu, trong một chừng mực nhất định, mâu thuẫn với chính nguyên tắc thiện chí, trung thực khi thực hiện hợp đồng của các bên và nếu xét từ góc độ bên vi phạm, mục đích của việc giao kết hợp đồng cũng không đạt được.
Trong trường hợp như vậy, vấn đề đặt ra là nếu các bên không có thỏa thuận về việc miễn nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng của bên vi phạm, việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng có đồng thời ràng buộc nghĩa vụ hạn chế tổn thất của bên bị vi phạm không? Nếu căn cứ vào quy định của Luật Thương mại 2005, nghĩa vụ hạn chế tổn thất chỉ áp đặt đối với bên bị vi phạm trong trường hợp bên này áp dụng chế tài buộc bồi thường thiệt hại, mà không phải là áp dụng cho tất cả các chế tài trong hoạt động thương mại. Ngay cả trong trường hợp áp dụng quy định tại Điều 305 Luật Thương mại 2005 thì tổn thất mà bên bị vi phạm có nghĩa vụ hạn chế được hiểu là tổn thất của chính bên bị vi phạm, kể cả tổn thất đối với khoản lợi đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra.
Đối với vấn đề trên, nếu áp dụng quy định của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods – CISG), bên mua có quyền buộc bên bán giao hàng khác thay thế hoặc sửa chữa khuyết tật của hàng hóa trong trường hợp giao hàng không phù hợp với hợp đồng (buộc thực hiện đúng hợp đồng). Tuy nhiên, bên mua cũng chỉ có thể thực hiện quyền yêu cầu bên bán giao hàng khác thay thế nếu việc giao hàng không phù hợp với hợp đồng của bên bán cấu thành một vi phạm cơ bản[3] hoặc bên mua có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa khuyết tật của hàng hóa trong trường hợp hợp lý[4] . Mặt khác, việc áp dụng chế tài phải được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc thiện chí[5] . Nguyên tắc này không cho phép bên mua “trừng phạt” bên bán bằng cách yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng khi việc thực hiện đúng hợp đồng khó có thể được thực hiện và nếu được thực hiện, sẽ làm phát sinh thiệt hại nghiêm trọng cho bên bán[6] .
Trong cùng một quan hệ hợp đồng tương tự như vậy[7] , Tòa Phúc thẩm New York đã lập luận và phán quyết như sau: Nguyên đơn đã hoàn thành chủ yếu nghĩa vụ của hợp đồng (nhưng lưu ý vẫn không phải là hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng theo thỏa thuận của các bên). Tuy nhiên, việc không thực hiệnmột cách đầy đủ hoặc đúng nghĩa vụ của mình, nếu không ảnh hưởng đáng kể và không gây hậu quả nghiêm trọng, thì có thể được xem xét cho phép áp dụng bồi thường thiệt hại thay vì áp dụng buộc thực hiện đúng hợp đồng. Điều này không có nghĩa là Tòa án khuyến khích việc không tuân thủ hợp đồng, nhưng theo quan điểm của Tòa, cần phải cân nhắc giữa mục đích đạt được, yêu cầu được thỏa mãn và tính hợp lý khi buộc tuân thủ hợp đồng.
Như vậy, trong trường hợp nêu trên chế tài buộc bồi thường thiệt hại có thể được áp dụng mà không buộc nguyên đơn phải thực hiện đúng hợp đồng. Cụ thể, cần xác định khoản thiệt hại phải bồi thường (khoản tiền chênh lệch giữa giá của ống dẫn nước đã lắp đặt và giá của ống dẫn nước theo hợp đồng) để làm cơ sở xác định lại giá hợp đồng mà bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn. Trên thực tế, khoản tiền chênh lệch này không đáng kể vì hệ thống ống nước được lắp đặt có cùng chất lượng, quy cách, hình dạng và giá cả tương đương với ống dẫn nước nhà sản xuất R. Phán quyết của Tòa Phúc thẩm New York trong trường hợp nêu trên có giá trị một án lệ, đã hình thành một quan điểm xét xử của Toà án đến ngày nay, theo đó một vi phạm do không thực hiện một cách đầy đủ hoặc đúng nghĩa vụ theo hợp đồng, nếu không ảnh hưởng đáng kể và không gây hậu quả nghiêm trọng, thì không cho phép việc áp dụng buộc thực hiện đúng hợp đồng mà thay vào đó, cho phép việc bồi thường thiệt hại (bằng cách điều chỉnh giá của phần nghĩa vụ đã thực hiện)[8] .
Như vậy, việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đặt ra vấn đề cần cân nhắc về điều kiện áp dụng chế tài. Trong trường hợp chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm, cho dù là vi phạm không cơ bản như quy định của Luật Thương mại 2005, các bên cần lưu ý đến các thỏa thuận miễn nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng của bên vi phạm trong một số trường hợp nhất định. Mặt khác, quy định của Luật Thương mại 2005 về nghĩa vụ hạn chế tổn thất không nên chỉ giới hạn đối với trường hợp bên bị vi phạm áp dụng chế tài buộc bồi thường thiệt hại cũng như không nên chỉ nhằm đến các tổn thất của bên bị vi phạm mà nên mở rộng phạm vi áp dụng nghĩa vụ này. Theo đó, bên bị vi phạm bị ràng buộc bởi nghĩa vụ hạn chế tổn thất khi áp dụng chế tài trong hoạt động thương mại, kể cả đối với những tổn thất của bên vi phạm mà bên bị vi phạm có thể hạn chế được trong khả năng của mình.
2. Quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác trong thương mại
Theo Điều 299 Luật Thương mại 2005, quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài khác được quy định như sau: (1) Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm nhưng không được áp dụng các chế tài khác; và (2) Trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 299 Luật Thương mại 2005, nếu các bên không có thỏa thuận khác, các chế tài khác không được áp dụng trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng. Tuy nhiên, xét bản chất của các loại chế tài, trường hợp thỏa thuận khác của các bên theo quy định tại khoản 1 Điều 299 được hiểu là trường hợp thỏa thuận áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng cùng lúc với chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Bởi vì không thể đồng thời áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng (không làm thay đổi hiệu lực hợp đồng) và chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng (làm chấm dứt hiệu lực hợp đồng kể từ thời điểm áp dụng chế tài) hay chế tài hủy hợp đồng (làm hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết), vì chức năng của các chế tài này hoàn toàn trái ngược nhau[9] .Trong khi đó, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng có thể áp dụng đồng thời với chế tàitạm ngừng thực hiện hợp đồng, nếu các bên có thỏa thuận, chẳng hạn, bên mua (bên bị vi phạm) có thể tạm ngừng thanh toán cho đến khi được bên bán (bên vi phạm) giao hàng hoặc ngược lại.
Về vấn đề tạm ngừng thực hiện hợp đồng đối với hoạt động mua bán hàng hóa, theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật Thương mại 2005, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không phù hợp đó. Tuy nhiên, quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật Thương mại 2005 giới hạn quyền của bên mua chỉ được tạm ngừng thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp bên bán đã giao hàng và bên mua chứng minh được vi phạm của bên bán về việc giao hàng không phù hợp với hợp đồng. Như vậy, khoản 3 Điều 51 Luật Thương mại 2005 không áp dụng đối với trường hợp bên bán không thực hiện nghĩa vụ giao hàng khi đến hạn. Còn nếu áp dụng khoản 1 Điều 299 Luật Thương mại 2005, bên mua chỉ có quyền tạm ngừng thanh toán nếu các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng về việc áp dụng đồng thời chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Quy định như vậy không hợp lý.
Như đã phân tích, hậu quả pháp lý khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng không mâu thuẫn nhau, do đó, Luật Thương mại 2005 cần quy định theo hướng trong thời hạn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, nếu có căn cứ để áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng thì bên bị vi phạm vẫn có quyền áp dụng mà không phụ thuộc vào việc hợp đồng có thỏa thuận việc áp dụng cùng lúc hay không.
Một vấn đề khác, theo quy định tại Điều 298 Luật Thương mại 2005, trong trường hợp áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm cũng đồng thời ấn định một thời gian hợp lý để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 299 Luật Thương mại 2005, trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Tuy nhiên, việc áp dụng các chế tài khác không phải trong mọi trường hợp đều đạt được mục đích “bảo vệ quyền lợi chính đáng” của bên bị vi phạm.
Chẳng hạn, trong trường hợp bên A (bên bán) giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với bên B (bên mua), hợp đồng chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005 và hàng hóa là đối tượng của hợp đồng có tính chất của hàng hóa đặc định, thuộc loại duy nhất và không có hàng hóa cùng loại có khả năng thay thế trên thị trường. Thực hiện hợp đồng, bên B đã thanh toán trước một phần tiền mua hàng và bên A có nghĩa vụ giao hàng vào một thời điểm xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên, đến trước hạn thực hiện nghĩa vụ giao hàng, bên A tìm được bên C (một bên mua khác trả giá cao hơn) nên quyết định bán cho C, thay vì bán cho B. Căn cứ quy định của Luật Thương mại 2005, bên A vi phạm nghĩa vụ giao hàng nên bên B có quyền áp dụng chế tài trong thương mại, cụ thể bên B đã áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Nếu bên A không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên B ấn định, bên B được áp dụng các chế tài khác, với điều kiện phải thỏa mãn căn cứ để áp dụng chế tài đó. Cụ thể, nếu các bên không thỏa thuận trong hợp đồng về chế tài phạt vi phạm thì chế tài này cũng không được áp dụng[10] . Nếu bên B áp dụng chế tài đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng thì có quyền đòi lại khoản tiền đã trả trước cho bên A [11] , và nếu có đủ các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên A (ví dụ tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm trong trường hợp B đã ký hợp đồng bán lại hàng hóa cho D hoặc tổn thất thực tế, trực tiếp của B do bị áp dụng các biện pháp chế tài khi vi phạm hợp đồng với D), thì có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại[12] . Tuy nhiên, nếu vào thời điểm A vi phạm hợp đồng mà B chưa giao kết hợp đồng bán lại hàng hóa với một bên thứ ba và B cũng không chứng minh được “có thiệt hại thực tế” thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại của A trong trường hợp này cũng không phát sinh.
Như vậy, trong trường hợp không thể “dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện” (và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh), việc “yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng”, ở một khía cạnh nhất định, phần nào không mang tính chất bắt buộc thực hiện, trừ khi hành vi buộc bán hoặc buộc mua với tính chất của một biện pháp cưỡng chế được áp dụng để giải quyết tranh chấp trong quan hệ hợp đồng thương mại. Thực ra, quy định về việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng bằng cách thức “yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng” cần được áp dụng trong trường hợp hàng hóa là đối tượng của hợp đồng có tính chất của hàng hóa đặc định, thuộc loại duy nhất và ngay cả trong trường hợp nếu có áp dụng bồi thường thiệt hại thì tiền bồi thường cũng không làm cho người mua có thể mua được hàng hóa thay thế trên thị trường. Vì vậy, quy định tại khoản 2 Điều 299 Luật Thương mại 2005 nên được hiểu là quyền của bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác (nếu xét thấy cần thiết) trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định. Quy định này không được hiểu theo hướng nếu bên vi phạm không tuân thủ việc thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì sẽ giải quyết bằng việc áp dụng các chế tài khác, vì với bản chất khác nhau của các loại chế tài, không loại nào có thể thay thế cho loại nào, mà tùy thuộc vào mục đích áp dụng chế tài của bên bị vi phạm.
CHÚ THÍCH
* ThS Luật học, giảng viên Khoa Luật Thương mại, Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh.
[1] Luật Thương mại (Luật số 36/2005/QH11) ngày 14 tháng 6 năm 2005.
[2] Bài viết này sử dụng một phần kết quả nghiên cứu trong đề tài: Các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa qua thực tiễn xét xử của Tòa án và Trọng tài tại Việt Nam, Phan Huy Hồng (Chủ nhiệm), Nguyễn Thị Thanh Huyền, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11/2011; quan điểm về thỏa thuận miễn nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng của bên vi phạm (xem tr. 124).
[3] Xem Điều 46(2) CISG.
[4] Xem Điều 46(3) CISG.
[5] Xem Điều 7(1) CISG.
[6] Tham khảo John O. Honnold (1991), Uniform Law for International Sales under the 1980 United Nations Convention, 2ndEdition, Kluwer Law and Taxation Publishers, tr. 365.
[7] Tham khảo Jacob & Young v. Kent, Court of Appeals of New York, 1921. 230 N.Y. 239, 129 N.E.889.
[8] Tham khảo Gaylord A. Jentz, Roger LeRoy Miller, Frank B. Cross,West’s Business Law,Thomson West, Tenth Edition, 2007, tr. 291; về vấn đề tương tự, tham khảo Henry Cheeseman, Business Law- Legal environment, online commerce, business ethics and international issues, Pearson Prentice Hall, Seventh Edition, 2010, tr. 271.
[9] Trường Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 422.
[10] Xem Điều 300 Luật Thương mại 2005.
[11] Xem Điều 311 và Điều 314 Luật Thương mại 2005.
[12] Xem Điều 302 và Điều 303 Luật Thương mại 2005.
- Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Thanh Huyền*
- Nguồn: Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 03/2014 (82)/2014 – 2014, Trang 38-43
- Nguồn: Fanpage Tạp chí Khoa học pháp lý






Trả lời