Mục lục
Một số vấn đề pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam
Tác giả: TS. Hà Thị Thanh Bình
TÓM TẮT
Công ty đại chúng (CTĐC) là một hình thức doanh nghiệp mở, có nhiều thuận lợi trong việc thu hút vốn đầu tư do tính chất dễ dàng của việc chuyển nhượng cổ phần. Tuy nhiên, tính chất này cũng tạo ra sự phân tán trong cơ cấu cổ đông và làm hạn chế khả năng tham gia quản lý công ty của cổ đông. Phần lớn cổ đông đầu tư vào CTĐC không muốn hoặc không thể trực tiếp tham gia vào việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty. Ngoài ra, để phát triển bền vững, CTĐC cần có đội ngũ quản lý chuyên nghiệp và có quyền độc lập nhất định trong việc quyết định chiến lược kinh doanh, đầu tư của công ty. Làm thế nào để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của cổ đông khi họ không trực tiếp hoặc thậm chí không thể cử đại diện tham gia quản lý và điều hành công ty? Pháp luật về quản trị công ty đóng vai trò không nhỏ trong việc giải quyết mâu thuẫn này. Bài báo này phân tích một số quy định pháp luật liên quan đến vấn đề quản trị CTĐC ở Việt Nam và đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của các quy định pháp luật về quản trị CTĐC ở nước ta.

Xem thêm:
- Một số vấn đề pháp lý về hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán của công ty chứng khoán – TS. Phan Phương Nam
- Xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động của công ty chứng khoán theo pháp luật Việt Nam – TS. Phan Phương Nam
TỪ KHÓA: Công ty đại chúng, Tạp chí Khoa học pháp lý
1. Khái quát về CTĐC
Theo quy định của pháp luật Việt Nam[1], CTĐC là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau đây:
*Công ty đã thực hiện việc chào bán cổ phiếu ra công chúng. Để có thể thực hiện được việc chào bán cổ phiếu ra công chúng, công ty cổ phần phải thỏa mãn các điều kiện sau: (i) có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 10 tỉ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; (ii) hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán; và (iii) có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thông qua[2].
*Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán. Để được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán, công ty cổ phần phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 53 Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán khi niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh – HOSE hoặc Điều 54 Nghị định 58/2012/NĐ-CP (khi niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội – HNX). Về cơ bản, các điều kiện quan trọng cần đáp ứng để có thể niêm yết chứng khoán trên các sở giao dịch chứng khoán là các điều kiện liên quan tới (i) yêu cầu tối thiểu về vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết; (ii) đáp ứng yêu cầu về thời hạn hoạt động tối thiểu dưới hình thức công ty cổ phần, về tỷ lệ lợi nhuận sau thuế tối thiểu; (iii) đáp ứng yêu cầu về tính công khai đối với khoản nợ của công ty với những người quản lý công ty, cổ đông và những người có liên quan của những người này; và (iv) có số lượng cổ đông lớn; có cam kết của cổ đông lớn là người có liên quan của thành viên các cơ quan quản lý, điều hành công ty, cam kết của cổ đông có đại diện tham gia quản lý, kiểm soát hoặc điều hành công ty về việc không chuyển nhượng cổ phần mà mình nắm giữ trong thời hạn luật định.
* Công ty có cổ phiếu được nắm giữ bởi ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và công ty phải có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên. Ngày công ty cổ phần trở thành CTĐC được tính từ ngày cổ đông đã hoàn thành việc góp vốn đầy đủ và có đủ từ 100 cổ đông trở lên được ghi nhận trong sổ cổ đông[3].
Như vậy, để được trở thành CTĐC, một công ty phải đáp ứng các điều kiện sau đây: (i) phải là công ty cổ phần; (ii) có vốn điều lệ đã góp lớn (từ 10 tỉ đồng trở lên) và (iii) có số lượng cổ đông lớn (ít nhất là 100 cổ đông). Trong trường hợp công ty cổ phần đã niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán thì không đặt ra yêu cầu phải có ít nhất 100 cổ đông.[4]
Xuất phát từ các điều kiện trên, công ty cổ phần đại chúng có các đặc điểm chung sau đây:
Thứ nhất, CTĐC là những công ty có quy mô vốn vừa và lớn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty cổ phần đại chúng phải có số vốn đã góp tối thiểu là 10 tỉ đồng. Điều kiện về vốn đã góp tối thiểu tạo niềm tin cho công chúng về khả năng phát triển của công ty.
Thứ hai, số lượng cổ đông thường lớn, có nhiều nhà đầu tư không chuyên. Pháp luật Việt Nam hiện hành yêu cầu công ty cổ phần đại chúng phải có tối thiểu là 100 nhà đầu tư (không tính các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp). Khi CTĐC không còn đủ số lượng tối thiểu 100 nhà đầu tư thì phải hủy đăng ký CTĐC (có nghĩa là không còn đáp ứng quy định về số lượng cổ đông tối thiểu để là CTĐC nữa)[5]. Đối với các công ty niêm yết, khi số lượng các cổ đông (không phải là cổ đông lớn) sở hữu số cổ phần có quyền biểu quyết tối thiểu 20% (đối với các công ty niêm yết tại HOSE) hoặc tối thiểu 15% (đối với các công ty niên yết trên HNX) giảm xuống dưới 300 (đối với các công ty niêm yết tại HOSE) và dưới 100 (đối với các công ty niêm yết tại HNX) thì cũng phải hủy niêm yết[6]. Tuy nhiên khi công ty cổ phần bị hủy niêm yết do không đủ số lượng cổ đông nắm giữ tỷ lệ cổ phần tối thiểu theo quy định trình bày ở trên nhưng vẫn đủ số lượng cổ đông tối thiểu là 100 thì vẫn là CTĐC.
Thứ ba, việc tham gia quản lý CTĐC của các cổ đông thường bị hạn chế xuất phát từ các lý do sau (i) phần lớn cổ đông công ty không đủ khả năng và điều kiện tham gia quản lý, điều hành công ty vì số lượng cổ đông đông đảo hoặc cổ đông không đủ năng lực và trình độ quản lý; (ii) các cổ đông CTĐC thường được nhìn nhận như những nhà đầu tư tài chính thuần túy. Vì vậy, họ thường không mong muốn hoặc không có khả năng tham gia vào công việc kinh doanh của công ty; và iii) tính phức tạp của thị trường và mục tiêu phát triển của công ty đòi hỏi một đội ngũ quản lý và điều hành công ty ổn định và có tính chuyên nghiệp.
2. Các nguyên tắc mang tính quốc tế về quản trị CTĐC
Mặc dù vấn đề quản trị công ty không chỉ đặt ra với CTĐC, vấn đề này được quan tâm nhiều hơn ở các công ty có cơ cấu sở hữu đa dạng mà trong đó CTĐC là một điển hình. So với các công ty nội bộ (công ty gia đình hoặc các công ty có cơ cấu cổ đông/chủ sở hữu đơn giản), các CTĐC có một số ưu điểm, đặc biệt là ở khả năng huy động vốn cổ phần và khả năng tham gia vào thị trường vốn vay. Tuy nhiên, chính từ những ưu điểm trên của CTĐC dẫn đến khả năng kiểm soát công ty của chủ sở hữu cũng như của những người sáng lập công ty bị hạn chế hơn so với các loại công ty khác. Nghiên cứu lịch sử phát triển của vấn đề quản trị công ty cho thấy chính sự tách bạch tương đối giữa quyền sở hữu công ty của các cổ đông và quyền kiểm soát công ty của người quản lý, điều hành là một lý do quan trọng thúc đẩy việc hình thành các nguyên tắc về quản trị công ty hiện đại. Theo nghiên cứu của Harwell Wells (2010) trong bài báo “The Birth of Corporate Governance ”[7], hiện tượng tách bạch quyền sở hữu và kiểm soát công ty (separation of ownership and control) đã được Adam Smith (1723-1790) đề cập trong tác phẩm The Wealth of Nations (1776). Trong tác phẩm này, Adam Smith đã nhận xét rằng đây là một đặc điểm tất yếu ở các công ty cổ phần mà chủ sở hữu vì quá đông đảo nên không đủ điều kiện và không có khả năng trực tiếp quản lý công ty. Ông cho rằng điều này tạo nên một tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, khi người có quyền quản lý công ty không phải là chủ sở hữu và vì thế mà theo lẽ tự nhiên anh ta sẽ không giám sát đồng vốn của người khác như giám sát đồng vốn của chính anh ta.
Năm 1933, trong tác phẩm kinh điển của lý thuyết về quản trị công ty – The Mordern Corporation and Private Property, Gardiner Means và Adolf Berle đã xem xét vấn đề này dưới cả hai khía cạnh pháp luật và kinh tế[8]. Nghiên cứu của Berle và Means đã khẳng định sự tách bạch tất yếu này trong các công ty cổ phần của Hoa Kỳ và đặt ra nhiều câu hỏi về sự mâu thuẫn lợi ích của người quản lý công ty với cổ đông công ty, cũng như về những nghĩa vụ đạo đức của người quản lý các công ty cổ phần. Nghiên cứu của hai ông đã chỉ ra rằng trong các công ty có cơ cấu cổ đông phân tán (‘dispersed-ownership’ companies), một tỷ lệ lớn các cổ đông không thực sự quan tâm đến hoạt động hàng ngày của công ty. Điều này dẫn đến kết quả là những cá nhân nắm giữ vị trí quản lý và điều hành công ty mới là những người thực sự có mối quan tâm trực tiếp đến hoạt động hàng ngày của công ty. Những người quản lý, điều hành công ty là những người có cơ hội và khả năng sử dụng nguồn lực của công ty cho lợi ích của chính họ nhưng lại không phải là những người đại diện cho phần lớn cổ đông trong công ty. Chính thực tế này đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật để chấp nhận tính độc lập tương đối giữa quyền sở hữu của cổ đông và quyền kiểm soát công ty của những người quản lý công ty, xây dựng quy chế cho việc nâng cao trách nhiệm của những người quản lý, điều hành công ty, đưa lợi ích của cổ đông và lợi ích của người quản lý công ty đến gần và hòa hợp với nhau.
Berle and Means đưa ra quan điểm rằng theo tính chất truyền thống của quyền sở hữu, việc kiểm soát các công ty thuộc về những cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền bổ nhiệm thành viên HĐQT[9]. Tuy nhiên đối với các công ty có cơ cấu cổ đông đa dạng như CTĐC, việc kiểm soát công ty trong thực tế được thực hiện bởi những người quản lý công ty (management control). Đây là mô hình áp dụng cho các công ty có cơ cấu sở hữu quá đa dạng và số lượng cổ đông quá lớn, đến mức mà không một cổ đông hay nhóm cổ đông nào có sự quan tâm cần thiết đến việc quản lý công ty. Sự tách bạch này mang đến nhiều lợi ích trong hoạt động vận hành và điều khiển công ty cổ phần cũng như có tác động thúc đẩy tích cực đến sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra một khoảng trống tự do cho quyền quản lý công ty, đặt ra nghi ngờ về tính hiệu quả của việc quản lý điều hành công ty cổ phần khi người quản lý không phải là chủ sở hữu và không phải là những người trực tiếp thụ hưởng hay gánh chịu các hậu quả của việc quản lý. Chính vì vậy, sự tách bạch giữa quyền sở hữu và kiểm soát công ty đã đặt nền tảng cho việc phát triển của các quy định về quản trị công ty hiện đại mà thực chất là để giải quyết vấn đề liên quan đến các quy tắc và các giới hạn của quá trình ban hành các quyết định của công ty[10] hay nói cách khác là sự tách bạch này làm phát sinh nhu cầu phải có các quy tắc để buộc những người quản lý, điều hành công ty phải hành động vì lợi ích của cổ đông công ty và đặt lợi ích của đại bộ phận cổ đông lên trên lợi ích cá nhân của mình. Chính vì những lý do trên, pháp luật về công ty cần có sự điều chỉnh thích hợp trong cơ cấu tổ chức quản lý CTĐC theo hướng vừa bảo vệ tích cực quyền sở hữu công ty của các cổ đông nhưng cũng vừa tạo được tính độc lập, sáng tạo và chủ động tương đối của những người quản lý công ty.
Pháp luật công ty ở các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ đều có những quy định mang tính chất khác biệt liên quan đến quản trị công ty dựa vào cơ cấu cổ đông. Theo đó, các CTĐC (public limited company (PLC)) ở Anh hoặc public corporation (C Corporation) ở Mỹ thường chịu sự điều chỉnh nghiêm ngặt hơn của pháp luật so với các công ty nội bộ (private company hay privately held company). Các quy định nghiêm ngặt này thường liên quan đến các quy định về quy trình ra quyết định quản lý, điều kiện để được bổ nhiệm và trách nhiệm cá nhân của người quản lý, điều hành, cũng như yêu cầu cao trong việc minh bạch và công bố thông tin. Ở phương diện quốc tế, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã ban hành các Nguyên tắc về Quản trị Công ty. Những nguyên tắc này được nhiều nước (không phụ thuộc vào việc nước đó có là thành viên của OECD hay không) áp dụng trong việc ban hành các quy định về quản trị công ty của mình[11]. Mặc dù các nguyên tắc này có thể được nghiên cứu để xây dựng các quy định về quản trị công ty cho tất cả các loại hình công ty, mục đích chính của các Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD là tập trung vào vấn đề quản trị CTĐC dựa trên cơ sở của vấn đề tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát công ty[12]. Các nguyên tắc chính trong quản trị công ty bao gồm: (i) đảm bảo các cơ sở cho một cơ chế quản trị công ty hiệu quả; (ii) đảm bảo quyền của cổ đông và các quyền năng sở hữu cơ bản; (iii) đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với cổ đông; (iv) đảm bảo quyền của tất cả các chủ thể có liên quan trong việc quản trị công ty; (v) đảm bảo tính minh bạch và nghĩa vụ công bố thông tin; và (vi) nâng cao trách nhiệm của thành viên hội đồng quản trị.
3. Đặc trưng của các quy định pháp luật về quản trị CTĐC ở Việt Nam
Ở nước ta, CTĐC phải tuân theo theo các quy định về quản trị công ty được quy định tại Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp[13] và các quy định khác của pháp luật có liên quan[14]. Xuất phát từ nguyên tắc áp dụng luật chung và luật riêng, liên quan đến các vấn đề về quản trị CTĐC, Luật Chứng khoán sẽ được ưu tiên áp dụng trong mối quan hệ với Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với các vấn đề liên quan đến quản trị công ty mà không được quy định trong Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn sẽ áp dụng các quy định của Luật Doanh nghiệp. Như vậy, việc quản trị CTĐC trước hết vẫn phải tuân thủ các quy định về quản trị công ty cổ phần được quy định trong Luật Doanh nghiệp hiện hành và các văn bản hướng dẫn luật này. Các quy định riêng về quản trị CTĐC quy định tại Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn mang tính chất cộng thêm, thể hiện những yêu cầu nghiêm ngặt hơn của pháp luật đối với vấn đề quản trị CTĐC, phù hợp với các đặc trưng của loại công ty này. Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích những các quy định riêng về quản trị CTĐC.
Sau khi Luật Chứng khoán được ban hành, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 ban hành quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết (Quyết định 12/2007/QĐ-BTC) và sau đó là Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 ban hành điều lệ mẫu của công ty niêm yết (Quyết định 15/2007/QĐ-BTC). Tuy nhiên, gần đây hai quyết định trên đã được thay thế bởi Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26 tháng 7 năm 2012 quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty cổ phần đại chúng (Thông tư 121/2012/TT-BTC). Khác với Quyết định 12/2007/QĐ-BTC và Quyết định 15/2007/QĐ-BTC quy định về quản trị công ty niêm yết, Thông tư 121/2012/TT-BTC quy định về quản trị CTĐC nói chung (rộng hơn khái niệm công ty niêm yết). Thay đổi này là phù hợp với quan điểm tăng cường quản lý hoạt động của CTĐC nói chung (không phân biệt việc CTĐC đã được niêm yết hay chưa) và khuyến khích các CTĐC niêm yết cổ phần trên các thị trường giao dịch tập trung để tăng cường tính minh bạch và thuận lợi cho việc quản lý thị trường vốn ở nước ta. Ngoài việc quy định những nội dung cơ bản trong việc quản trị CTĐC, Thông tư 121/2012/TT-BTC cũng ban hành Điều lệ mẫu cho các công ty này. Trong khi Quyết định 15/2007/QĐ-BTC nêu rõ Điều lệ các công ty cổ phần niêm yết tối thiểu phải bao gồm các quy định của Điều lệ mẫu (trừ điều 27) và có thể bao gồm các điều khoản khác thì Thông tư 121/2012/TT-BTC không khẳng định tính chất ràng buộc của Điều lệ mẫu được ban hành kèm theo. Khoản 2 Điều 5 Thông tư 121/2012/TT-BTC yêu cầu CTĐC tham chiếu Điều lệ mẫu ban hành kèm theo Thông tư này để xây dựng điều lệ của công ty. Mặc dù vậy, trên thực tế, các CTĐC thường phải căn cứ vào điều lệ mẫu để xây dựng điều lệ cho công ty của mình.
Theo quy định của Luật Chứng khoán, cơ chế quản trị công ty cổ phần đại chúng phải tuân theo các nguyên tắc sau[15]: (i) Bảo đảm cơ cấu quản trị hợp lý; bảo đảm hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát (BKS); (ii) Bảo đảm quyền lợi của cổ đông và những người có liên quan; (iii) Bảo đảm đối xử công bằng giữa các cổ đông; và (iv) Công khai, minh bạch mọi hoạt động của công ty. Về hình thức, các nguyên tắc quản trị này là phù hợp với thông lệ quốc tế về quản trị công ty, cụ thể là các nguyên tắc cơ bản về quản trị công ty của OECD.
Thông tư 121/2012/TT-BTC đã cụ thể hóa các nguyên tắc trên bằng các quy định về quản trị nội bộ của CTĐC trong đó có các quy định về cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý công ty như ĐHĐCĐ, HĐQT và BKS. Đồng thời, Thông tư này cũng đưa ra các quy định nhằm ngăn ngừa xung đột về lợi ích trong CTĐC. Nhìn chung, các quy định về quản trị CTĐC theo pháp luật hiện hành của nước ta có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, liên quan đến các quyền và nghĩa vụ của cổ đông, phần lớn các quy định của Thông tư 121/2012/TT-BTC nhắc lại quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông được quy định tại Luật Doanh nghiệp, như quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, quyền tiếp cận thông tin liên quan đến hoạt động của công ty, quyền được ưu tiên mua cổ phần phát hành thêm theo tỷ lệ cổ phần đang sở hữu[16]. Điểm khác biệt giữa các quy định về quyền của cổ đông trong công ty cổ phần nói chung và CTĐC nói riêng là các quy định liên quan đến việc tạo điều kiện cho cổ đông tham gia vào quản lý và giám sát CTĐC. CTĐC phải cố gắng tối đa trong việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại để cổ đông có thể tham gia vào các cuộc họp ĐHĐCĐ một cách tốt nhất, bao gồm việc hướng dẫn cổ đông bỏ phiếu từ xa, biểu quyết thông qua họp ĐHĐCĐ trực tuyến[17]. Để đảm bảo quyền tham gia của cổ đông trong việc bàn bạc, thảo luận các vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ, cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên không được tổ chức dưới hình thức lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản[18]. Thông tư 121/2012/TT-BTC cũng quy định chi tiết các nội dung các hoạt động mà HĐQT và BKS phải báo cáo ĐHĐCĐ thường niên. Các quy định trên nhằm mục đích tạo điều kiện tối đa cho cổ đông tham gia quản lý công ty, thể hiện quyền giám sát tối cao của các cổ đông (chủ sở hữu công ty) đối với hoạt động của công ty. So với các quy định tại Luật Doanh nghiệp, Điều lệ mẫu CTĐC quy định tại Thông tư 121/2012/TT-BTC đã mở rộng hơn những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của ĐHĐCĐ[19]. Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam hiện hành chú trọng việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông CTĐC theo hướng đề cao vai trò của ĐHĐCĐ trong việc quản trị công ty.
Thứ hai, so với các quy định chung của Luật Doanh nghiệp đối với thành viên HĐQT công ty cổ phần, quy định về quản trị CTĐC đặt ra thêm các yêu cầu về điều kiện và trách nhiệm của thành viên HĐQT. Điều này là phù hợp với tính chất của CTĐC, nơi mà phần lớn các cổ đông không thể tham gia trực tiếp vào việc quản lý công ty. Các điều kiện trở thành thành viên HĐQT CTĐC được quy định cụ thể hơn, trong đó nhấn mạnh tính chất chuyên nghiệp và trình độ chuyên môn của thành viên HĐQT. Cơ cấu HĐQT của CTĐC phải đảm bảo sự cân đối giữa các thành viên có kiến thực và kinh nghiệm về pháp luật, tài chính và lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty[20]. Để nâng cao tính minh bạch đối với các vấn đề có thể tạo ra các xung đột về lợi ích, thành viên HĐQT có trách nhiệm công bố cho công ty các khoản thù lao mà họ nhận được từ các công ty con, công ty liên kết và các tổ chức khác mà họ là người đại diện phần vón góp của công ty[21]. Quy định này nhằm giám sát các thành viên HĐQT của công ty, ngăn ngừa các xung đột về lợi ích của thành viên HĐQT và lợi ích của công ty.
Ngoài ra, Thông tư 121/2012/TT-BTC đã có những quy định thể hiện yêu cầu tách bạch giữa vấn đề quản lý và điều hành CTĐC. CTĐC cần hạn chế thành viên HĐQT kiêm nhiệm các chức danh quản lý trong bộ máy điều hành của công ty để đảm bảo tính độc lập của HĐQT[22]. Ngoài ra, CTĐC cũng phải đảm bảo HĐQT phải có sự cân đối giữa các thành viên kiêm nhiệm điều hành và các thành viên không điều hành, trong đó tối thiểu 1/3 thành viên HĐQT phải là thành viên không điều hành[23]. Những yêu cầu như thế này không được đặt ra đối với các công ty cổ phần nói chung theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Yêu cầu bắt buộc về số lượng thành viên HĐQT không điều hành là một quy định đặc thù của pháp luật Việt Nam. Bằng quy định này, các nhà làm luật Việt Nam muốn phân tách chức năng quản lý và chức năng điều hành trong các công ty cổ phần có quy mô lớn để đảm bảo tính độc lâp tương đối trong các quyết định quản lý của HĐQT.
Tuy nhiên, theo tác giả, trong thực tế việc quản lý và điều hành trong công ty nói chung và các CTĐC nói riêng khó có thể tách bạch hai chức năng này. Các quyết định mang tính chất quản lý phải có khả năng thực thi và vấn đề điều hành công việc hàng ngày của công ty thực chất là việc thực hiện các quyết định mang tính quản lý. Các thành viên quản lý và điều hành đều phải đáp ứng các yêu cầu như nhau về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, tư cách đạo đức và không nhất thiết phải độc lập với nhau. Ngoài ra Luật Doanh nghiệp cũng chỉ đưa ra khái niệm người quản lý doanh nghiệp[24] và theo khái niệm này, người quản lý doanh nghiệp bao gồm cả những người nắm giữ các vị trí điều hành trong doanh nghiệp. Quy định này của pháp luật Việt Nam là tương đối khác biệt so với pháp luật về quản trị công ty của pháp luật nhiều nước trên thế giới. Nghiên cứu pháp luật các nước Anh, Mỹ và Úc cho thấy HĐQT (Board of Directors) là cơ quan quản lý và điều hành công ty, bao gồm những thành viên (directors) có quyền trực tiếp thực hiện chức năng quản lý, điều hành công ty, độc lập với chủ sở hữu (hoạt động thông qua cơ chế cuộc họp ĐHĐCĐ). Giám đốc điều hành (CEO) thông thường chỉ là người làm thuê và tổ chức thực hiện các nghị quyết của HĐQT. Theo tác giả, việc giám đốc điều hành đồng thời là thành viên HĐQT công ty cũng là một điểm cộng, góp phần vào việc tăng cường hiệu quả quản lý điều hành hoạt động của công ty. Các thành viên HĐQT đại diện cho tất cả các cổ đông trong việc quản lý, điều hành công ty. Mối quan hệ giữa cổ đông và các thành viên HĐQT được điều chỉnh bởi pháp luật về đại diện, trong đó quy định rất nghiêm ngặt trách nhiệm của những người quản lý công ty (những người đại diện cho cổ đông công ty).
Xuất phát từ sự tách bạch giữa quyền sở hữu và điều hành trong các công ty có cơ cấu cổ đông phân tán mà trong thực tiễn thành viên HĐQT thường không phải là cổ đông và cũng không bắt buộc phải là cổ đông. Tuy nhiên, các quy định về trình độ chuyên môn, tư cách đạo đức cũng như các quy định về trách nhiệm cá nhân của các thành viên HĐQT ở Việt Nam hiện nay vẫn còn chung chung và vì vậy có hiệu quả thực thi thấp. Đối với các công ty có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, điều hành, những người quản lý, điều hành công ty thực chất hoạt động với danh nghĩa của người đại diện cho các cổ đông, hành động nhân danh và vì lợi ích của cổ đông trong việc quản lý và điều hành công ty. Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, pháp luật rất chú trọng đến việc quy định trách nhiệm của các thành viên HĐQT, trong đó các thành viên (directors) có trách nhiệm trung thành (fidiciary duty) đối với các cổ đông nói chung, hành động vì lợi ích của công ty và tuyệt đối không để cho lợi ích cá nhân xung đột với lợi ích của công ty và cổ đông công ty. Ngoài các quy định về quản trị công ty trong các luật về công ty, ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, trách nhiệm của các thành viên hội đồng quản trị đối với cổ đông và đối với công ty còn được điều chỉnh bởi pháp luật về đại diện (principal – agent relationship), được được hình thành và phát triển thông qua các án lệ nên rất cụ thể và linh hoạt phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Đáng tiếc, Luật Doanh nghiệp và các quy định về quản trị công ty cổ phần đại chúng của Việt Nam vẫn chưa có các quy định cụ thể, có tính khả thi để ràng buộc trách nhiệm của những người quản lý công ty trong việc thực hiện chức trách của mình.
Thứ ba, liên quan đến BKS, pháp luật về quản trị CTĐC quy định chi tiết hơn so với Luật Doanh nghiệp về điều kiện nắm giữ vị trí trưởng BKS (phải là người có chuyên môn về kế toán)[25]. Ngoài ra, thông tư 121/2012/TT-BTC cũng quy định chi tiết hơn về trách nhiệm và nghĩa vụ của BKS như số lần họp tối thiểu trong năm, điều kiện để cuộc họp hợp lệ, quyền yêu cầu các cơ quan quản lý, điều hành công ty giải trình và trả lời về các vấn đề mà các thành viên BKS quan tâm[26].
Thứ tư, pháp luật về quản trị công ty cổ phần đại chúng có các quy định cụ thể hơn so với Luật Doanh nghiệp liên quan đến vấn đề ngăn ngừa và giám sát những giao dịch có khả năng tạo ra xung đột về lợi ích giữa các thành viên HĐQT, thành viên BKS, giám đốc hoặc tổng giám đốc điều hành và các cán bộ quản lý khác với công ty. Do CTĐC có cơ cấu cổ đông đa dạng, số lượng cổ đông lớn nên trong thực tế những người nắm các vị trí quản lý và điều hành công ty không đại diện cho đa số cổ đông trong công ty. Chính đặc điểm này đặt ra yêu cầu phải có cơ chế kiểm soát các giao dịch có nguy cơ gây ra những xung đột về lợi ích. Ngoài các quy định yêu cầu người quản lý, điều hành công ty phải công khai các lợi ích liên quan theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, Pháp luật về quản trị công ty cổ phần đại chúng yêu cầu các thành viên HĐQT, BKS, Giám đốc (Tổng giám đốc), các cán bộ quản lý khác và những người có liên quan của họ không được phép sử dụng những cơ hội kinh doanh có thể mang lại lợi ích cho công ty vì mục đích cá nhân, không được sử dụng những thông tin có được từ chức vụ của mình để tư lợi cá nhân hay để phục vụ cho lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác; không được sử dụng hoặc tiết lộ cho người khác các thông tin chưa được công bố của công ty để thực hiện các giao dịch có liên quan[27]. Ngoài ra, CTĐC cũng không được phép cung cấp các khoản vay hoặc bảo lãnh cho các cổ đông và những người có liên quan[28]. Việc công ty cung cấp các khoản vay hoặc bảo lãnh cho các thành viên HĐQT, BKS, giám đốc (tổng giám đốc) điều hành, các cán bộ quản lý khác và những người có liên quan của họ phải được ĐHĐCĐ quyết định[29].
Thứ năm, CTĐC có nghĩa vụ công bố các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động kinh doanh, tài chính và tình hình quản trị của công ty cho cổ đông và công chúng. Nghĩa vụ công bố thông tin của của CTĐC được quy định cụ thể tại Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán (Thông tư 52/2012/TT-BTC). Ngoài nghĩa vụ công bố thông tin của công ty, thành viên HĐQT, thành viên BKS, Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành phải có nghĩa vụ công bố thông tin về (i) các giao dịch giữa CTĐC với công ty mà các thành viên nêu trên là thành viên sáng lập, thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) trong thời gian (03) ba năm trước; các giao dịch giữa CTĐC với công ty mà người có liên quan của các thành viên nêu trên là thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành hoặc cổ đông lớn; và (iii) các giao dịch có thể mang lại lợi ích vật chất hoặc phi vật chất đối với các thành viên nêu trên. Nhìn chung, các quy định pháp luật về công bố thông tin của Việt Nam tương đối chi tiết và cụ thể. Hầu như tất cả các thông tin có liên quan đến các giao dịch có tính chất tư lợi của người quản lý công ty đều phải được công bố trên phương tiện công bố thông tin theo quy định của pháp luật (đối với CTĐC là trên trang thông tin điện tử chính thức của công ty) để cổ đông và các nhà đầu tư theo dõi. Việc công bố thông tin có thể thực hiện theo định kỳ, bất thường hoặc khi có yêu cầu tùy theo từng loại thông tin và được quy định cụ thể tại Thông tư 52/2012/TT-BTC.
Thứ sáu, các quy định pháp luật về quản trị CTĐC đặt ra các yêu cầu chặt chẽ hơn đối với việc quản trị CTĐC quy mô lớn[30] và công ty niêm yết so với các CTĐC khác. Chương VII Thông tư 121/2012/TT-BTC đặt ra một số quy định riêng về quản trị CTĐC quy mô lớn và công ty niêm yết theo đó quy định các công ty này phải có ít nhất là 5 thành viên HĐQT, tối thiểu 1/3 tổng số thành viên HĐQT là thành viên độc lập (không điều hành và đáp ứng các yêu cầu của thành viên độc lập[31]). Trong khi các quy định về thành viên không điều hành trong HĐQT của CTĐC nói chung chỉ yêu cầu các thành viên này là những người không trực tiếp tham gia điều hành công ty, đối với CTĐC quy mô lớn hoặc công ty niêm yết, các thành viên không điều hành trong HĐQT còn phải là những người không liên quan đến các thành viên điều hành, không phải là cổ đông lớn, không phải là người đại diện cổ đông lớn hoặc người có liên quan của cổ đông lớn… Mặc dù các quy định này được đặt ra để đảm bảo tính độc lập tương đối trong các quyết định mang tính quản lý của HĐQT, việc thực thi các quy định này trong thực tế không phải là điều dễ dàng do việc bầu thành viên HĐQT thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ và pháp luật hiện hành không có quy định ràng buộc các điều kiện này trong việc đề cử người để ĐHĐCĐ bầu thành viên HĐQT.
Ngoài ra, CTĐC quy mô lớn và công ty niêm yết phải xây dựng và ban hành Quy chế nội bộ về quản trị công ty, cần thành lập các tiểu ban của HĐQT để hỗ trợ các hoạt động của HĐQT, và HĐQT phải chỉ định ít nhất một người làm thư ký công ty. Thư ký công ty phải có trình độ về pháp lý. Quy định về vị trí thư ký công ty và yêu cầu về trình độ pháp lý của thư ký công ty trong CTĐC quy mô lớn và công ty niêm yết là một quy định phù hợp với các quy định về quản trị công ty hiện đại, theo đó đòi hỏi tính chuyên nghiệp trong hoạt động lưu giữ giấy tờ liên quan đến hoạt động quản trị công ty cũng như yêu cầu đảm bảo tính pháp lý trong tất cả các hoạt động thông qua các quyết định quan trọng của cơ quan quản lý công ty.
Như vậy, có thể thấy rằng, các quy định pháp luật về quản trị công ty cổ phần đại chúng hiện hành của Việt Nam đã (i) nhấn mạnh vai trò của cổ đông trong việc quản trị công ty (biểu hiện cụ thể ở việc tăng quyền hạn cho ĐHĐCĐ so với công ty cổ phần nội bộ); (ii) đặt ra các yêu cầu để đảm bảo tính độc lập tương đối giữa các thành viên quản lý và các thành viên điều hành hoạt động hàng ngày của công ty; và (iii) kiểm soát việc các thành viên quản lý, điều hành công ty thực hiện các giao dịch mang tính chất tư lợi, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công ty mà suy cho cùng là quyền và lợi ích của cổ đông.
4. Một vài khuyến nghị
Qua các trình bày nêu trên có thể thấy pháp luật Việt Nam trong thời gian gần đây đã có những bước tiến dài trong việc tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về quản trị CTĐC. Các quy định pháp luật hiện hành đã phản ánh sự tiếp thu các quy định hiện đại trong quản trị công ty ở nhiều nước phát triển bao gồm cả các Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD. Qua nghiên cứu cho thấy, thực chất pháp luật về quản trị doanh nghiệp của nước ta vay mượn nhiều ở pháp luật của các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Tuy vậy, nhìn chung các quy định của pháp luật nước ta về quản trị CTĐC mới ở gian đoạn đầu của sự phát triển và vẫn còn mang nặng tính tuyên ngôn và hình thức, thiếu các quy định mang tính cụ thể và có tính thực thi cao. Theo tác giả, một trong những lý do khiến pháp luật về quản trị doanh nghiệp của Việt Nam thiếu tính ứng dụng mặc dù được xây dựng dựa trên việc học hỏi pháp luật của các nước phát triển là vì ở các nước theo hệ thống pháp luật án lệ, tòa án đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải thích và áp dụng pháp luật. Các nguyên tắc được hình thành từ án lệ được áp dụng như là một nguồn luật hỗ trợ rất có hiệu quả trong việc áp dụng các quy định pháp luật thành văn, ví dụ như các nguyên tắc pháp luật về hợp đồng, về mối quan hệ đại diện được vận dụng xuyên suốt quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật về quản trị doanh nghiệp. Các nguyên tắc pháp luật án lệ là nguồn luật bổ trợ rất quan trọng ở các nước này và vì thế các quy định pháp luật thành văn không cần quá chi tiết. Chính sự khác biệt đó đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản trị CTĐC của nước ta theo hướng các quy định cần cụ thể và chi tiết hơn. Sau đây là một số nội dung khuyến nghị cụ thể :
Thứ nhất, các quy định về điều kiện để cuộc họp ĐHĐCĐ hợp lệ cần mềm dẻo và linh hoạt hơn đối với CTĐC. Nói cách khác, cần nghiên cứu để giảm bớt yêu cầu về số lượng tối thiểu cổ đông tham gia cuộc họp ĐHĐCĐ, trao quyền quy định về vấn đề này cho điều lệ công ty. Các quy định hiện hành về quản trị công ty của Việt Nam đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt về điều kiện để ĐHĐCĐ được triệu tập hợp lệ trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của số lượng cổ đông tham dự cuộc họp (phải có số cổ đông diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết đối với lần triệu tập đầu tiên và ít nhất là 51% đối với cuộc họp được triệu tập lần thứ hai và chỉ đến lần triệu tập thứ ba mới không tính đến số lượng cổ đông dự họp[32]). Mặc dù quy định này được coi là một trong những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông, nó làm phát sinh các trở ngại đối với việc triệu tập cuộc họp của ĐHĐCĐ của các CTĐC có cơ cấu cổ đông phân tán, số lượng cổ đông nhiều và tỷ lệ cổ đông công chúng mà mỗi cổ đông trong số đó có tỷ lệ sở hữu cổ phần thấp chiếm số đông. Nhiều cổ đông của các CTĐC không quan tâm đến việc tham gia cuộc họp của ĐHĐCĐ. Chính vì lý do này, nhiều cuộc họp ĐHĐCĐ của CTĐC phải triệu tập lại nhiều lần, gây tốn kém cho công ty.
Xuất phát từ nguyên tắc việc tham gia cuộc họp ĐHĐCĐ của công ty là quyền (chứ không phải nghĩa vụ) của cổ đông, với điều kiện là thủ tục triệu tập cuộc họp được tuân thủ, việc hạ thấp điều kiện về tỷ lệ số cổ đông có mặt trong cuộc họp ĐHĐCĐ hoặc cho phép điều lệ công ty quyết định tỷ lệ này[33] tạo thuận lợi cho hoạt động của công ty, xuất phát từ thực tế phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, điều hành trong CTĐC. Các cổ đông thực sự quan tâm đến hoạt động của công ty sẽ tìm cách thu xếp để tham dự họp. Việc giảm bớt yêu cầu của về tỷ lệ số cổ đông sở hữu cổ phần có quyền biểu quyết tham dự cuộc họp sẽ hạn chế được tình trạng các cổ đông không thực sự quan tâm đến hoạt động của công ty và không tham dự họp cản trở tiến trình thông qua quyết định của công ty. Một số quốc gia được đánh giá là có quy định về quản trị công ty theo hướng bảo vệ quyền lợi cổ đông như Luật Công ty của Úc[34], của Vương quốc Anh[35] đều quy định cuộc họp ĐHĐCĐ được coi là hợp lệ khi có từ hai cổ đông trở lên (không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn sở hữu) tham dự suốt thời gian diễn ra cuộc họp, trừ khi điều lệ công ty có quy định khác.
Thứ hai, cần có các quy định thể hiện rõ bản chất của sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, điều hành trong CTĐC. Hiện nay pháp luật về quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam đi theo nguyên tắc những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của ĐHĐCĐ phải được liệt kê cụ thể (trong quy định của pháp luật và điều lệ của công ty) và những vấn đề còn lại (không được liệt kê) sẽ thuộc thẩm quyền quyết định của HĐQT[36]. Nguyên tắc này về mặt lý thuyết tạo cho HĐQT thẩm quyền tương đối rộng trong việc quản lý, điều hành công ty. Tuy nhiên, điểm h, khoản 2 Điều 96 Luật Doanh nghiệp lại quy định ĐHĐCĐ có quyền xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty. Quy định này thực chất có phạm vi áp dụng rộng và không loại trừ khả năng tạo cơ sở cho ĐHĐCĐ hủy bỏ nghị quyết của HĐQT. Theo quan điểm của tác giả, các quy định về quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là quản trị CTĐC cần tạo điều kiện cho bộ máy quản lý, điều hành hoạt động một cách độc lập, tránh chịu sự chi phối không cần thiết từ cổ đông. Vì thế cần có quy định không cho phép ĐHĐCĐ hủy bỏ nghị quyết của HĐQT với điều kiện việc ban hành nghị quyết đó đã tuân thủ quy định của pháp luật và điều lệ công ty và vấn đề được giải quyết theo nghị quyết đó thuộc nhiệm vụ của HĐQT đã được pháp luật và điều lệ công ty quy định[37].
Thứ ba, pháp luật về quản trị CTĐC cần có thêm các quy định cụ thể nhằm đề cao tính chịu trách nhiệm (accountibility) của người quản lý điều hành CTĐC, bao gồm các quy định về điều kiện để được bổ nhiệm, các trường hợp bãi nhiệm người quản lý công ty và về nhiệm vụ và quyền hạn của các nhân sự quản lý này. Các quốc gia có các quy định về quản trị công ty dựa trên cơ sở của sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý, điều hành thường có các quy định rất chặt chẽ về trách nhiệm cá nhân của những người quản lý, điều hành công ty. Trong pháp luật của những nước thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, nghĩa vụ trung thành của người quản lý, điều hành công ty chi phối toàn bộ quá trình thực thi nhiệm vụ của những người này vì việc họ được nắm giữ những vị trí này trong công ty là dựa trên sự tin tưởng của cổ đông[38]. Liên quan đến vấn đề này, cần tiếp tục nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về đại diện trên cơ sở học tập kinh nghiệm từ các nguyên tắc án lệ của pháp luật Anh – Mỹ[39].
Pháp luật về đại diện của Việt Nam còn rất sơ khai, trong khi pháp luật của một số nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ rất phát triển trong việc quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của người đại diện đối với người giao đại diện để đảm bảo cân bằng lợi ích của hai bên[40]. Các quy định về quản trị công ty ở các nước này thường được hỗ trợ thực thi bởi những nguyên tắc án lệ (bao gồm các quy định điều chỉnh mối quan hệ đại diện) đã được hình thành từ lâu đời và được áp dụng một cách thống nhất. Ở các nước này, quy định về trách nhiệm của người quản lý điều hành thường bao gồm các trách nhiệm trung thành, hành động cẩn trọng và có trách nhiệm với mức độ trách nhiệm mà những người nắm giữ trọng trách tương tự phải có, nghĩa vụ hành động vì lợi ích của công ty, nghĩa vụ tránh mâu thuẫn về lợi ích với công ty, nghĩa vụ sử dụng quyền hạn một cách đúng mực trong phạm vi chức trách của mình, không được phép sử dụng cơ hội kinh doanh của công ty làm cơ hội kinh doanh của mình, chịu trách nhiệm tài sản cá nhân (kể cả trách nhiệm hình sự) đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ của khi thực thi quyền quản lý, điều hành công ty, quy định cụ thể về các trường hợp miễn nhiệm hoặc sa thải các vị trí quản lý, điều hành công ty, đặc biệt là đối với chức danh Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành được thuê, quy định trách nhiệm của người quản lý điều hành công ty trong việc thông báo cho các chủ nợ về tình trạng mất khả năng thanh toán nợ của công ty, trách nhiệm ngăn cản các giao dịch dẫn đến việc công ty có thể bị vỡ nợ (duty to prevent insolvent trading)[41]….
Mặc dù pháp luật về quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trị CTĐC nói riêng ở nước ta cũng đã có những quy định về các vấn đề này nhưng còn chưa cụ thể hoặc thiếu sự hỗ trợ từ các quy định pháp luật khác có liên quan. Đơn cử như việc chấp dứt quan hệ lao động đối với chức danh Giám đốc (tổng giám đốc) điều hành của các công ty ở nước ta hiện nay thường gặp khó khăn do chức danh này phần lớn có quan hệ hợp đồng lao động với công ty. Việc chấm dứt quan hệ lao động với những người này phải tuân thủ các quy định của pháp luật lao động vốn thiên về bảo vệ quyền lợi của người lao động. Vì thế cần có quy chế riêng về chấm dứt hợp đồng lao động đối với vị trí này vì nếu theo các quy định hiện hành của Bộ luật Lao động[42] thì việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với họ sẽ khó khăn nếu chỉ dựa vào lý do họ không đạt được sự kỳ vọng của cổ đông. Những nghĩa vụ như vậy cần được quy định cụ thể với những chế tài có khả năng thực thi cao nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi của cổ đông và những người có lợi ích liên quan đến hoạt động của CTĐC – một mô hình công ty mà do kết quả của việc phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, điều hành, phần lớn cổ đông, đặc biệt là cổ đông nhỏ không thể tham gia quản lý, điều hành công ty.
CHÚ THÍCH
* TS Luật học, giảng viên Khoa Luật Thương mại, Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh.
[1] Quy định tại Điều 27 Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).
[2] Khoản 1 Điều 12 Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)
[3] Khoản 3 Điều 34 Nghị định 58/2012/NĐ-CP.
[4] Theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 53 Nghị định 58/2012/NĐ-CP để có thể được niêm yết trên HOSE, tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty phải do ít nhất ba trăm (300) cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ. Theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 54 Nghị định 58/2012/NĐ-CP để có thể được niêm yết trên HNX, tối thiểu 15% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty phải do ít nhất một trăm (100) cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ.
[5] Khoản 1 Điều 36 Nghị định 58/2012/NĐ-CP.
[6] Điểm a, khoản 1 Điều 60 Nghị định 58/2012/NĐ-CP.
[7] Harwell Wells (2010), “The Birth of Corporate Governance”, Seatle University Law Review, Vol.33, No. 4, tr. 1251.
[8] Adolf Berle and Gardiner Means (1933), The Mordern Corporation and Private Property, New York, The Macmillan Company.
[9] Adolf Berle and Gardiner Means (1968), The Mordern Corporation and Private Property, New York: Harcourt, rev.edn 1968), tr. 66, được trích trong Ben Pettet (2009), Pettet’s Company law: Company and Capital Markets Law, 3rd Edition, Pearson, Longman, tr. 57.
[10] Harwell Wells (2010), tlđd, tr. 1252.
[11] Xem thêm Le Minh Toan and Walker, Gordon (2008), “Corporate Governance of Listed Companies in Vietnam”, Bond Law Review, Vol.20, Iss. 2, Article 6, tr. 11
Có thể truy cập từ website http://epuplications.bond.edu.au/blr/vol20/iss2/6.
[12] Le Minh Toan and Walker, Gordon (2008), tlđd, tr. 11
[13] Trong bài này, Luật Doanh nghiệp chính là Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005.
[14] Điều 28 Luật Chứng khoán.
[15] Điều 28 Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)
[16] Xem Điều 3 Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[17] Xem khoản 4 Điều 6 Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[18] Xem khoản 5 Điều 6 Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[19] Một số ví dụ về việc mở rộng các vấn đề phải do ĐHĐCĐ của CTĐC quyết định như: việc Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành đồng thời làm Chủ tịch HĐQT hoặc việc ĐHĐCĐ quyết định hợp đồng giữa các bên có liên quan quy định tại điều 120 Luật Doanh nghiệp khi giá trị các hợp đồng này bằng hoặc lớn hơn 20% tổng giá trị tài sản của công ty ghi trong báo cáo tài chính được kiểm toán gần nhất (xem Điều 14 (2)(o),(p) Thông tư 121/2012/TT-BTC). Trong khi đó, Điều 120 (3) Luật Doanh nghiệp 2005, quy định ĐHĐCĐ quyết định việc chấp thuận các hợp đồng có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản của công ty ghi trong báo cáo tài chính được kiểm toán gần nhất (trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định khác).
[20] Xem khoản 1 Điều 11Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[21] Xem khoản 4 Điều 13 Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[22] Xem khoản 2 Điều 10Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[23] Khoản 2 Điều 11 Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[24] Khoản 13 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005.
[25] Khoản 2 Điều 19 Thông tư 121/2012/TT-BTC. Khoản 2 Điều 121 Luật Doanh nghiệp 2005 chỉ quy định BKS phải có ít nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên.
[26] Xem Điều 21 Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[27] Điều 23 Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[28] Khoản 3 Điều 24 Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[29] Khoản 4 Điều 23 Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[30] Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, CTĐC quy mô lớn là CTĐC có vốn điều lệ thực góp từ 120 tỷ đồng trở lên được xác định tại Báo cáo tài chính năm gần nhất có kiểm toán hoặc theo kết quả phát hành gần nhất và có số lượng cổ đông không thấp hơn 300 cổ đông tính tại thời điểm chốt danh sách cổ đông tại TTLKCK vào ngày 31 tháng 12 hàng năm theo danh sách của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) công bố.
[31] Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư 121/2012/TT-BTC, thành viên HĐQT độc lập là thành viên HĐQT đáp ứng các điều kiện sau:
– Là thành viên HĐQT không điều hành và không phải là người có liên quan với Giám đốc (Tổng giám đốc), Phó giám đốc (Phó Tổng giám đốc), Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác được HĐQT bổ nhiệm;
– Không phải là thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng giám đốc) của các công ty con, công ty liên kết, công ty do công ty đại chúng nắm quyền kiểm soát;
– Không phải là cổ đông lớn hoặc người đại diện của cổ đông lớn hoặc người có liên quan của cổ đông lớn của công ty;
– Không làm việc tại các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, kiểm toán cho công ty trong hai (02) năm gần nhất;
– Không phải là đối tác hoặc người liên quan của đối tác có giá trị giao dịch hàng năm với công ty chiếm từ ba mươi phần trăm (30%) trở lên tổng doanh thu hoặc tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào của công ty trong hai (02) năm gần nhất.
[32] Điều 102 Luật Doanh nghiệp và Điều 18 Điều lệ mẫu công ty đại chúng được ban hành kèm theo Thông tư 121/2012/TT-BTC.
[33] Theo Đoạn 503 và Đoạn 504 Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và Phụ lục kèm theo Nghị quyết 71/2006/QH11 của Quốc hội ngày 29 tháng 11 năm 2006 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam, điều lệ công ty liên danh có vốn đầu tư nước ngoài (đầu tư trong các lĩnh vực dịch vụ mà Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường) được quy định số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông của công ty (không bị giới hạn tỷ lệ tối thiểu theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005). Thiết nghĩ quy định này nên được áp dụng cho tất cả các công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên và công ty cổ phần mà không phụ thuộc vào hình thức sở hữu và lĩnh vực hoạt động.
[34] Điều 249T, Coporation Act 2001.
[35] Điều 318 (2), Companies Act 2006.
[36] Xem khoản 2 điều 96 và Khoản 1 Điều 108 Luật Doanh nghiệp.
[37] Về vấn đề này, có thể nghiên cứu thêm pháp luật về công ty của Anh, Úc. Trong án lệ Automatic Self-Cleansing Syndicate v Cunninghame [1906] 2 Ch 34 và án lệ John Shaw & Son (Salford) Ltd. v Shaw [1935] 2 KB 113: tòa án Anh đã ban hành nguyên tắc sau đây để đảm bảo tính độc lập của bộ máy quản lý điều hành công ty: nếu quyền hạn đã được trao cho thành viên HĐQT theo quy định của Điều lệ công ty, cổ đông/thành viên công ty không thể can thiệp vào việc thực hiện các quyền đó vì điều lệ công ty được coi là một bản cam kết/hợp đồng theo đó, cổ đông/thành viên đã chia sẻ quyền lực của mình cho thành viên HĐQT – những người đại diện và nhân danh cổ đông trong việc quản lý điều hành công ty. Nguyên tắc án lệ nêu trên cũng được áp dụng tại tòa án Úc trong án lệ NRMA v Parker (1986) 11 ACLR 1.
[38] Le Minh Toan and Walker, Gordon (2008), tlđd, tr. 33.
[39] Về vấn đề này, xem thêm Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề trong pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Pháp Lý, số 4 (41) 2007.
[40] Xem thêm Alix Adam (2010), Law for Business Students, 6th Edition, Pearson, Longman, tr. 198 – 212; Henry Cheeseman (2010), Business Law, 7th Edition, Pearson Education, tr. 481 – 492.
[41] Xem Phần X Companies Act 2006 (Vương quốc Anh), Phần 2D1, Chương 2D Corporation Law (Úc).
[42] Xem điều 38 Bộ luật Lao động 2012 về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động.
- Tác giả: TS. Hà Thị Thanh Bình*
- Nguồn: Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 05/2013 (78)/2013 – 2013, Trang 25-26
- Nguồn: Fanpage Tạp chí Khoa học pháp lý






Trả lời