• Trang chủ
  • Hiến pháp
  • Hình sự
  • Dân sự
  • Hành chính
  • Hôn nhân gia đình
  • Lao động
  • Thương mại

Luật sư Online

Tư vấn Pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, ly hôn, thừa kế, đất đai

  • Kiến thức chung
    • Học thuyết kinh tế
    • Lịch sử NN&PL
  • Cạnh tranh
  • Quốc tế
  • Thuế
  • Ngân hàng
  • Đất đai
  • Ngành Luật khác
    • Đầu tư
    • Môi trường
 Trang chủ » Góc nhìn của Việt Nam đối với Công ước La Hay năm 1996 về quyền tài phán, luật áp dụng, công nhận, thi hành án và hợp tác liên quan đến trách nhiệm của cha mẹ và các biện pháp bảo vệ trẻ em

Góc nhìn của Việt Nam đối với Công ước La Hay năm 1996 về quyền tài phán, luật áp dụng, công nhận, thi hành án và hợp tác liên quan đến trách nhiệm của cha mẹ và các biện pháp bảo vệ trẻ em

27/10/2021 27/10/2021 CTV. Nguyễn Thị Thanh Hân Leave a Comment

Mục lục

  • TÓM TẮT
  • 1. Một số vấn đề về trách nhiệm của cha mẹ đối với nghĩa vụ bảo vệ trẻ em theo quy định của Công ước
    • ­ Về nguyên tắc bảo vệ trẻ em.
    • ­ Về nơi thường trú của trẻ em.
    • ­ Về trách nhiệm của cha mẹ.
  • 2. Các biện pháp bảo vệ trẻ em theo quy định của Công ước
    • Thứ nhất, biện pháp mà Công ước hướng tới là việc trao, thực hiện, chấm dứt hoặc hạn chế trách nhiệm của cha mẹ cũng như việc ủy quyền thực hiện trách nhiệm của cha mẹ14.
    • Thứ hai, quyền nuôi dưỡng, bao gồm quyền chăm sóc trẻ em và, cụ thể là quyền quyết định nơi cư trú của trẻ em, cũng như quyền thăm nom, bao gồm quyền đưa trẻ em đến một nơi khác nơi thường trú của trẻ trong một khoảng thời gian nhất định19.
    • Thứ ba, giám hộ, trợ tá và các biện pháp tương tự21.
    • Thứ tư, chỉ định chức năng của bất kỳ người hoặc cơ quan nào chịu trách nhiệm với bản thân hoặc tài sản của trẻ, đại diện hoặc hỗ trợ cho trẻ22.
    • Thứ năm, sắp xếp trẻ em trong một gia đình nuôi dưỡng hoặc trung tâm chăm sóc, hoặc theo sự chăm sóc của kafala hoặc một tổ chức tương tự23.
    • Thứ sáu, cơ quan có thẩm quyền công giám sát đối với bất kỳ người nào có trách nhiệm giám sát trẻ24.
    • Thứ bảy, quản lý, giữ gìn hoặc phân phối tài sản của trẻ em25.
  • 3. Góc nhìn từ Việt Nam và  một  số  kiến nghị
  • CHÚ THÍCH

Góc nhìn của Việt Nam đối với Công ước La Hay năm 1996 về quyền tài phán, luật áp dụng, công nhận, thi hành án và hợp tác liên quan đến trách nhiệm của cha mẹ và các biện pháp bảo vệ trẻ em

Tác giả: Lê Xuân Tùng [1]

TÓM TẮT

Kể từ ngày 10/4/2013, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế. Với tư cách thành viên, Việt Nam tích cực tham gia quyết định chính sách, xây dựng các Công ước hợp tác về các vấn đề tư pháp quốc tế và phương hướng tương lai của Hội nghị La Hay. Trong khuôn khổ Hội nghị La Hay, các vấn đề liên quan đến trẻ em có yếu tố nước ngoài đặc biệt được các quốc gia thành viên danh sự quan tâm rất lớn2. Các khía cạnh về bảo vệ trẻ em được đề cập đến trong Hội nghị La Hay cho đến thời điểm hiện tại bao gồm: các nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi con nuôi quốc tế, hành vi bắt cóc trẻ em và đặc biệt là bảo vệ trẻ em. Trong số đó, Công ước La Hay năm 1996 về quyền tài phán, luật áp dụng, công nhận, thi hành và hợp tác liên quan đến trách nhiệm của cha mẹ và các biện pháp bảo vệ trẻ em được đánh giá3 là Công ước tiên tiến khi mục tiêu của Công ước nhằm bảo vệ trẻ em trong các tình huống có tính chất quốc tế và tránh các xung đột pháp luật liên quan có thể xảy ra đối với các biện pháp bảo vệ trẻ em. Tính đến ngày 29 tháng 10 năm 20204, đã có tổng cộng 53 quốc gia trở thành thành viên của Công ước, một con số khá khiêm tốn so với Công ước La Hay năm 1980 với 101 thành viên và Công ước La Hay năm 1993 với 123 thành viên. Công ước gồm 63 điều, được chia làm 7 chương5 bao gồm: (i) Phạm vi công ước, (ii) Quyền tài phán, (iii) Luật áp dụng, (iv) Công nhận và thi hành, (v) Hợp tác, (vi) Các quy định chung, (vii) Những điều khoản cuối cùng. Bài viết này sẽ phân tích một số vấn đề liên quan đến trách nhiệm của cha mẹ, biện pháp bảo vệ trẻ em trong Công ước và đưa ra một số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật đối với Việt Nam.

Góc nhìn của Việt Nam đối với Công ước La Hay năm 1996 về quyền tài phán, luật áp dụng, công nhận, thi hành án và hợp tác liên quan đến trách nhiệm của cha mẹ và các biện pháp bảo vệ trẻ em

1. Một số vấn đề về trách nhiệm của cha mẹ đối với nghĩa vụ bảo vệ trẻ em theo quy định của Công ước

­ Về nguyên tắc bảo vệ trẻ em.

Đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em luôn là nguyên tắc cốt lõi và xuyên suốt cho trong Công ước năm 1996. Lời mở đầu của Công ước đã khẳng định: “Việc xác nhận lợi ích tốt nhất của trẻ sẽ được xem xét hàng đầu”6. Nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam, luôn coi nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là nội dung trọng yếu trong chiến lược phát triển đất nước7. Trẻ em là công dân đặc biệt được gia đình cũng như xã hội quan tâm, bảo vệ, chăm sóc. Tuy nhiên, trẻ em còn non nớt về thể chất và tinh thần nên các em không thể tự mình thực hiện đầy đủ các quyền hầu hết phải dựa vào người lớn là cha mẹ hoặc người giám hộ. Khi thực hiện pháp luật về bảo đảm các quyền trẻ em, các Điều ước quốc tế cũng như các quốc gia luôn đặt nguyên tắc bảo vệ những lợi ích tốt nhất dành cho trẻ em (ensure the best interests) lên hàng đầu.

Xem thêm tài liệu liên quan:

  • Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế theo Công ước Luật Biển năm 1982 về lĩnh vực đánh bắt hải sản và bảo vệ môi trường
  • Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại việt nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài
  • Nội luật hóa quy định của Công ước về chống tra tấn liên quan đến tài phán trong Bộ luật Hình sự Việt Nam
  • Nghĩa vụ hợp tác dẫn độ, tương trợ tư pháp hình sự và quyền tài phán phổ quát của quốc gia theo Công ước chống tra tấn năm 1984
  • Thực tiễn công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật
  • Chuẩn mực quốc tế về bảo vệ quyền ưu tiên tư pháp của trẻ em phạm tội và tính tương thích trong BLHS 2015
  • Hạn chế của điều kiện về quyền tài phán của tòa án nước ngoài trong việc công nhận, thi hành bản án dân sự, thương mại của tòa án nước ngoài trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

­ Về nơi thường trú của trẻ em.

Công ước không đưa ra định nghĩa cụ thể về nơi thường trú. Bản chất của các quy định và sự sắp xếp được mô tả trong Công ước phụ thuộc vào nơi một đứa trẻ thường trú. Nguyên tắc chung là quốc gia mà đứa trẻ thường trú là quốc gia có quyền tài phán đối với đứa trẻ và có quyền thực hiện và quyết định các thủ tục tố tụng để bảo vệ quyền lợi của đứa trẻ đó. Thiết lập nơi ở theo thói quen của trẻ thường là một giai đoạn quan trọng trong việc đánh giá tình hình của trẻ8. Theo quy định pháp luật Việt Nam, nơi cư trú theo quy định của Luật cư trú là nơi công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấp huyện9. Trong đó, nơi thường trú là nơi công dân sinh sống ổn định, lâu dài và có đăng ký thường trú10 (xác lập trên cơ sở đăng ký). Pháp luật Việt Nam không có quy định riêng về nơi thường trú của trẻ em mà chỉ quy định về nơi cư trú của trẻ. Căn cứ Điều 41 Bộ luật dân sự năm 2015 thì nơi cư trú của trẻ em được xác định là nơi cư trú của cha mẹ. Trong trường hợp cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống. Khoản 2 Điều 41 cũng ghi nhận, người chưa thành niên (trong đó có trẻ em) có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha mẹ, nếu được cha mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định. Trong các tranh chấp về hôn nhân gia đình có liên quan đến trẻ em nói chung và có yếu tố nước ngoài nói riêng, nơi cư trú của trẻ em cũng không được thể hiện, thường chỉ ghi ngày tháng năm sinh của trẻ.

­ Về trách nhiệm của cha mẹ.

Trách nhiệm của cha mẹ được quy định trong Khoản 2 Điều 1 của Công ước bao gồm thẩm quyền của cha mẹ hoặc bất kỳ mối quan hệ tương tự nào về thẩm quyền xác định quyền, quyền hạn và trách nhiệm của cha mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp khác liên quan đến đứa trẻ. Sổ tay của Hội nghị La Hay về Hướng dẫn thực thi Công ước quy định khái niệm “trách nhiệm của cha mẹ” có thể được hiểu tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia thành viên11. Pháp luật Việt Nam mặc dù không có định nghĩa về “trách nhiệm của cha mẹ” như quy định trong Công ước nhưng các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và người giám hộ, người đại diện theo pháp luật đối với nhân thân cũng như tài sản của trẻ em đã tương đối đầy đủ.

2. Các biện pháp bảo vệ trẻ em theo quy định của Công ước

Trong Công ước, các biện pháp bảo vệ trẻ em không được định nghĩa, giải thích mà thay vào đó là quy định các biện pháp bảo vệ bản thân hoặc tài sản của trẻ thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Các biện pháp bảo vệ này có thể liên quan đến lĩnh vực được quy định tại Điều 3 (danh sách không hạn chế)12 và Điều 4 quy định danh sách một số lĩnh vực mà các biện pháp ban hành ra không được coi là biện pháp bảo vệ trẻ em hoặc vẫn là biện pháp bảo vệ trẻ em nhưng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước13.

Thứ nhất, biện pháp mà Công ước hướng tới là việc trao, thực hiện, chấm dứt hoặc hạn chế trách nhiệm của cha mẹ cũng như việc ủy quyền thực hiện trách nhiệm của cha mẹ14.

Sổ tay Công ước cho rằng, pháp luật quốc gia có một số cách thức khác nhau để trao, chấm dứt, hạn chế, ủy quyền thực hiện trách nhiệm của cha mẹ. Ví dụ, xác định trách nhiệm của cha mẹ sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật là được trao cho cha mẹ đã kết hôn khi trẻ sinh ra, hay bằng việc thực hiện một số hành vi pháp lý là công nhận cha của trẻ mà cha mẹ chưa kết hôn hoặc bằng thỏa thuận của cha mẹ, tuyên bố của cha mẹ trong di chúc. Đối chiếu khoản 1 Điều 88, Luật hôn nhân và gia đình năm 201415 về xác định cha, mẹ thì quy định này ghi nhận 3 trường hợp có sự tương đồng đối với Điều 3 (a) Công ước.

Trong phạm vi điều chỉnh của Công ước đối với biện pháp bảo vệ tại Điều 3 (a), cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể trao quyền, nghĩa vụ của cha mẹ cho một người (chẳng hạn: Tòa án giao quyền nuôi con cho một bên cha, mẹ sau khi ly hôn, Ủy ban nhân dân giao trẻ cho gia đình chăm sóc thay thế) hoặc thay đổi (Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ với con). Những biện pháp này đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước.

Việc hạn chế quyền của cha mẹ với con chưa thành niên theo Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, theo đó cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên khi có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con bị kết án hoặc có hành vi vi phạm nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc có hành vi vi phạm về đạo đức không đủ tư cách nuôi dưỡng, giáo dục con tốt như có lối sống đồi trụy, xúi giục con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức…

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây: Một là, bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con16; Hai là, phá tán tài sản của con17; Ba là, có lối sống đồi trụy; Bốn là xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội18.

Thứ hai, quyền nuôi dưỡng, bao gồm quyền chăm sóc trẻ em và, cụ thể là quyền quyết định nơi cư trú của trẻ em, cũng như quyền thăm nom, bao gồm quyền đưa trẻ em đến một nơi khác nơi thường trú của trẻ trong một khoảng thời gian nhất định19.

Mặc dù trách nhiệm của cha mẹ đã bao gồm quyền nuôi dưỡng và thăm nom nhưng những nội dung này vẫn được Công ước quy định riêng. Đây là những khái niệm quen thuộc trong lĩnh vực pháp luật về hôn nhân và gia đình. Có thể thấy, định nghĩa “quyền nuôi dưỡng ” và “quyền thăm nom ” tại Điều 3 b), thuật ngữ này được lặp lại tại Điều 5 b) của Công ước năm 1980. Đây là việc lặp lại có dụng ý và những thuật ngữ “quyền nuôi dưỡng” và “quyền thăm nom” nên được giải thích một cách thống nhất để đảm bảo mối liên hệ giữa hai Công ước.

Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa tồn tại định nghĩa riêng biệt về quyền nuôi dưỡng và quyền thăm nom cũng như quyền quyết định nơi cư trú của trẻ. Cần phải xác định, quyền nuôi dưỡng con cái giữa cha và mẹ là bình đẳng20. Tuy nhiên trong trường hợp xảy ra tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, đây là một vấn đề dễ phát sinh mâu thuẫn. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được, Tòa án sẽ giao con cho một người trực tiếp nuôi dưỡng và quyền nuôi dưỡng không được quy định có được trao cho riêng một bên cha mẹ đó hay không.

Khoản 2 Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình đề cập đến nghĩa vụ và quyền của cha mẹ, trong đó nội hàm của quyền nuôi dưỡng được mở rộng và được đặt cạnh các quyền và nghĩa vụ khác, bao gồm: “Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.

Quy định tại Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng không loại trừ trường hợp quyền trực tiếp nuôi dưỡng đã được trao cho một bên cha mẹ khi ly hôn. Điều này có thể dẫn đến tranh chấp giữa các bên về việc người có quyền quyết định nơi cư trú/thường trú của trẻ trong trường hợp một bên cha mẹ được trao quyền nuôi con muốn chuyển nơi cư trú. Khi không có sự rõ ràng giữa quyền nuôi dưỡng, quyền thăm nom và việc quyết định nơi cư trú của trẻ, cơ quan có thẩm quyền Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việc giải thích cho các quốc gia thành viên những nội dung để tìm kiếm sự hỗ trợ theo cơ chế của Công ước.

Thứ ba, giám hộ, trợ tá và các biện pháp tương tự21.

Công ước điều chỉnh các biện pháp bảo vệ trẻ em, đại diện hoặc hỗ trợ cho trẻ em khi cha mẹ của trẻ đã chết hoặc không được trao quyền đại diện cho trẻ thông qua giám hộ, trợ tá và các biện pháp tương tự. Pháp luật Việt Nam có quy định về giám hộ, kể cả giám hộ với người chưa thành niên, chủ yếu chế định giám hộ được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thứ tư, chỉ định chức năng của bất kỳ người hoặc cơ quan nào chịu trách nhiệm với bản thân hoặc tài sản của trẻ, đại diện hoặc hỗ trợ cho trẻ22.

Ngoài cha mẹ hoặc người giám hộ, “cá nhân hay tổ chức” được nói đến cũng có thể là một người giám hộ hoặc luật sư của trẻ, hoặc một người có quyền đối với trẻ trong những tình huống nhất định (ví dụ: “một ngôi trường hoặc một người quản lý khu nghỉ dưỡng được yêu cầu đưa ra quyết định về y tế đối với trẻ do sự vắng mặt của người đại diện hợp pháp của trẻ”).

Pháp luật Việt Nam không có chế định người đại diện trong tố tụng là luật sư riêng của trẻ như một số quốc gia khác. Trong các quy định tại Điều 85, 88 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2014 hay Luật tố tụng hành chính năm 2015, người đại diện trong tố tụng cho trẻ thường là người đại diện theo pháp luật.

Thứ năm, sắp xếp trẻ em trong một gia đình nuôi dưỡng hoặc trung tâm chăm sóc, hoặc theo sự chăm sóc của kafala hoặc một tổ chức tương tự23.

Quy định này không dẫn đến việc nuôi con nuôi hoặc các biện pháp chuẩn bị cho việc nuôi con nuôi vì các vấn đề này đã được loại trừ khỏi phạm vi áp dụng của Công ước theo Điều 4. Hệ thống kafala được sử dụng rộng rãi ở một số Quốc gia theo đạo Hồi như một cách chăm sóc trẻ em khi cha mẹ chúng không thể chăm sóc. Hệ quả pháp lý của hành vi đón nhận trẻ thông qua quyết định kafala không giống với hành vi nhận nuôi con nuôi. Tại hệ thống kafala, trẻ em được chăm sóc bởi các gia đình mới hoặc họ hàng nhưng liên hệ pháp lý với cha mẹ ruột thường không bị chấm dứt. Trẻ vị thành niên được nhận nuôi theo chế định kafala vẫn duy trì mối quan hệ gắn bó với cha mẹ đẻ hoặc với gia đình của mình. Do đó, đối với chế định kafala , việc nhận nuôi trẻ không làm phát sinh bất cứ mối quan hệ pháp lý nào giữa trẻ với người nhận nuôi trẻ, mà đây chỉ là một hành vi chuyển giao đơn giản quyền cha mẹ đối với trẻ. Việc nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ sẽ chấm dứt khi trẻ đến tuổi trưởng thành.

Thứ sáu, cơ quan có thẩm quyền công giám sát đối với bất kỳ người nào có trách nhiệm giám sát trẻ24.

Việc giám sát trẻ em tại Việt Nam có sự tham gia của nhiều cơ quan bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương. Cơ quan có thẩm quyền có thể giám sát việc giao trẻ cho người chăm sóc thay thế và cả việc chăm sóc trẻ của chính gia đình mình hoặc tại môi trường khác.

Thứ bảy, quản lý, giữ gìn hoặc phân phối tài sản của trẻ em25.

Mục này bao gồm tất cả biện pháp nhằm bảo vệ tài sản của trẻ em. Các biện pháp đó có thể bao gồm, ví dụ, việc chỉ định một người giám hộ để bảo vệ lợi ích của trẻ em liên quan đến một tài sản nhất định liên quan đến một vụ kiện nhất định đang chờ giải quyết. Tuy nhiên, Công ước không chồng chéo lên hệ thống luật về tài sản. Công ước vì thế không điều chỉnh luật nội dung liên quan đến các quyền đối với tài sản, ví dụ, các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu/quyền đối với tài sản. Việc quản lý, bảo quản, định đoạt tải sản của trẻ theo Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật, cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật hoặc có thể tự thực hiện tùy theo độ tuổi tính chất của giao dịch.

3. Góc nhìn từ Việt Nam và  một  số  kiến nghị

Nguyên tắc bảo vệ trẻ em và bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em đã được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam ở nhiều cấp độ khác nhau, từ văn bản có hiệu lực cao nhất (Hiến pháp) đến các đạo luật và văn bản dưới luật. Điều 36 và 37, Hiến pháp năm 2013 đã xác định nguyên tắc nhà nước bảo hộ quyền lợi của trẻ em; trẻ em được nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Nguyên tắc này được tiếp tục nhấn mạnh và cụ thể hóa tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 5 Luật trẻ em năm 2016, đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em trong các quyết định liên quan đến trẻ em.

Pháp luật hiện hành tại Việt Nam cũng đã quy định rõ hơn về bảo vệ trẻ em cũng như trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ­ xã hội, tổ chức kinh tế, cơ sở giáo dục và trên hết là trách nhiệm của gia đình, mà đặc biệt là cha mẹ. Nếu như Khoản 1 điều 5 của Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em còn quy định khá chung: “1. Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân. Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu” thì đến Luật trẻ em năm 2016 đã có 1 chương riêng (Chương VI Điều 79 đến Điều 102) xác định cụ thể các trách nhiệm.

Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập quốc tế, các vụ việc về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài ngày càng xuất hiện nhiều với tính chất phức tạp cao. Có thể kể đến những vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài mà cha hoặc mẹ muốn thăm con tại một quốc gia khác, việc cha/mẹ đưa con đến một quốc gia khác mà không có sự xin phép của người còn lại… Các quyết định dân sự của tòa án hoặc cơ chế đảm bảo quyền nuôi dưỡng của pháp luật Việt Nam cũng chưa có quy định cụ thể để đảm bảo trách nhiệm của cha mẹ cũng như quyền lợi của trẻ em trong những trường hợp này26. Việc xác định nơi thường trú của trẻ em trong nhiều trường hợp cũng gặp nhiều khó khăn khi có những mâu thuẫn, xung đột trong pháp luật quốc gia.

Từ những quy định về trách nhiệm của cha mẹ và các biện pháp bảo vệ trẻ em trong Công ước La Hay năm 1996, trên cơ sở Quyết định số 1440/QĐ­TTg27 về Kế hoạch thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt Nam, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, các cơ quan hữu quan bao gồm Bộ Tư pháp, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tòa án nhân dân tối cao cần nghiên cứu, đánh giá nhu cầu về hợp tác quốc tế trong công nhận và thực thi các biện pháp bảo vệ trẻ em thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước; đánh giá tác động về kinh tế ­ xã hội, tác động về pháp luật, sự cần thiết, những thuận lợi, khó khăn của Việt Nam trong trường hợp quyết định tham gia Công ước. Công ước La Hay năm 1996 quy định những vấn đề quan trọng trong lĩnh vực tư pháp quốc tế tuy nhiên mục tiêu lớn nhất của Công ước mà Việt Nam cần đặc biệt chú ý vẫn là đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em

Thứ hai, trong trường hợp Việt Nam gia nhập Công ước, một số quy định và thuật ngữ cần được giải thích rõ, đảm bảo đúng tinh thần Công ước và pháp luật quốc gia. Có thể thấy, phạm vi các quy định liên quan trong Công ước khá rộng. Dưới bình diện pháp luật quốc gia, việc bảo vệ lợi ích tốt nhất cho trẻ cũng như trách nhiệm của cha mẹ sẽ liên quan đến các luật: Luật hôn nhân và gia đình, Luật tương trợ tư pháp, Luật cư trú… Một số quy định tương đối đặc thù trong Công ước nhưng chưa có trong pháp luật Việt Nam bao gồm “trách nhiệm cha mẹ”,“nơi thường trú”; “tình huống khẩn cấp”… cần được rà soát toàn diện để xem xét bổ sung, sửa đổi. Các dấu hiệu pháp luật Việt Nam hiện tại sử dụng để xác định thẩm quyền vụ việc liên quan đến trẻ em như thay đổi người nuôi con… chủ yếu phụ thuộc vào nơi cư trú của bị đơn, nguyên đơn hoặc nơi có tài sản. Khi xác định tham gia Công ước Lahay 1996, thẩm quyền liên quan đến các biện pháp bảo vệ trẻ em sẽ theo nơi thường trú của trẻ em.

Thứ ba, nghiên cứu thật kỹ các kinh nghiệm của nước ngoài về các biện pháp bảo vệ trẻ em, trách nhiệm của cha mẹ cũng như thực thi Công ước. Khi tính đến khả năng gia nhập sẽ có những xung đột trong pháp luật nội dung và pháp luật hình thức của Việt Nam và một số quốc gia thành viên Công ước liên quan đến bảo vệ trẻ em và trách nhiệm của cha mẹ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu những xung đột về pháp luật, đặc biệt là pháp luật nội dung giữa Việt Nam và Công ước cũng như Việt Nam và một số quốc gia trong Công ước là vô cùng cần thiết để đánh giá toàn diện về sự tương thích. Hiện nay, chưa có quốc gia nào trong châu Á gia nhập Công ước nhưng các quốc gia như Singapore cũng đã có những nghiên cứu chuyên sâu và hướng đến việc gia nhập Công ước trong thời gian sắp tới.

Cuối cùng, bồi dưỡng chuyên sâu các cán bộ, công chức tại các cơ quan Trung ương đảm nhiệm các vai trò liên quan đến các vấn đề bảo vệ trẻ em, trách nhiệm của cha mẹ kiến thức liên quan đến pháp luật quốc tế và các chuyên đề về nội dung Công ước. Trong bối cảnh Việt Nam càng tích cực trong công cuộc hội nhập quốc tế, các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài càng phát triển với tần suất ngày càng gia tăng về số lượng cũng như sư phức tạp. Khi việc đi lại quốc tế diễn ra dễ dàng hơn như hiện nay, việc quy định về trách nhiệm của cha mẹ, bảo vệ trẻ em cũng như đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em cần sự phối hợp chặt chẽ, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nhiều vấn đề quốc tế cần giải quyết ở vấn đề đa phương với nỗ lực cao từ các quốc gia và Công ước chính là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng cụ thể hóa mối quan tâm này.Việt Nam đã là thành viên của Công ước La Hay năm 1993 và trong thời gian sắp tới sẽ hoàn tất thủ tục gia nhập Công ước năm 1980. Nhìn một cách tổng quan, việc nghiên cứu những quy định để tiến tới gia nhập Công ước năm 1996 sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam, không chỉ tăng cường hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ trẻ em mà còn giúp hoàn thiện pháp luật quốc gia./.

CHÚ THÍCH

  1. Thạc sỹ, Nghiên cứu viên, Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.
  2. Elisabeth J. Ryan, For the Best Interests of the Children: Why the Hague Convention of Intercountry Adoption Needs to Go Farther, as Evidenced by Implementation in Romania and the United States, Boston College International and Comparative Law Review
  3. 4 PAPER BUILDINGS, 1996 Hague Convention Seminar, xem tại: https://www.4pb.com/wp­content/ uploads/ 2012/06/Hague_Seminar_Final_Draft.pdf.
  4. Xem tại: https://www.hcch.net/en/instruments/conventions/status­table/?cid=70, truy cập lần cuối ngày 22/11/2020.
  5. https://www.hcch.net/en/instruments/conventions/full­text/?cid=70, truy cập lần cuối vào 15/09/2020.
  6. Xem tại: https://www.hcch.net/en/instruments/conventions/full­text/?cid=70, truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2020.
  7. Xem tại: https://laodong.vn/thoi­su/cham­soc­bao­ve­tre­em­la­mot­nhiem­vu­chien­luoc­trong­tam­de­phat­ trien­dat­nuoc­623607.ldo, truy cập ngày 12/09/2020.
  8. Theo Bộ Giáo dục Anh, nơi thường trú đã được định nghĩa về mặt tư pháp là nơi một người đã thiết lập, trên cơ sở cố định, với lợi ích thường xuyên của họ, với tất cả các sự kiện liên quan được xem xét cho mục đích xác định nơi cư trú đó. Đối với một đứa trẻ bằng chứng về thói quen để xác định nơi thường trú sẽ bao gồm các yếu tố như: i) Nơi đứa trẻ đăng ký đi học hoặc nhà trẻ; ii) Nơi đứa trẻ đăng ký chăm sóc y tế; iii) Nơi ở thường xuyên của người chăm sóc chính của đứa trẻ; iv) Cách sắp xếp quyền giám hộ quy định nơi đứa trẻ nên sống.
  9. Điều 2 Khoản 2 Luật cư trú năm 2020.
  10. Điều 2 Khoản 8 Luật cư trú năm 2020.
  11. Căn cứ Đạo luật trẻ em năm 1989 tại Anh, trách nhiệm của cha mẹ được định nghĩa là “các quyền, nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm mà theo luật mà cha mẹ của một đứa trẻ có liên quan đến đứa trẻ và tài sản của nó”. Tại Úc, Đạo luật gia đình năm 1975 quy định rằng: “Cha, mẹ của một đứa trẻ chưa đủ 18 tuổi đều có trách nhiệm của cha mẹ đối với đứa trẻ. Trách nhiệm này có hiệu lực bất chấp mọi thay đổi về bản chất của các mối quan hệ của cha mẹ đứa trẻ”.
  12. Practical Handbook on the Operation of the 1996 Hague Child Protection Convention by HCCH, Xem tại: https://www.hcch.net/en/publications­and­studies/details4/?pid=6096
  13. Công ước cũng loại trừ phạm vi áp dụng đối với một số biện pháp sau: i) Việc hình thành hoặc tranh chấp đối với quan hệ cha mẹ ­ con cái; ii) Quyết định nhận con nuôi, các biện pháp chuẩn bị nhận con nuôi, hoặc hủy bỏ việc nuôi con nuôi; iii) Họ tên của trẻ em; iv) Sự thành niên của trẻ em; v) Nghĩa vụ cấp dưỡng; vi) Tín thác hoặc thừa kế; vii) An sinh xã hội; viii) Các biện pháp công cộng về giáo dục hoặc sức khỏe; ix) Các biện pháp được ban hành khi trẻ em phạm tội hình sự; x) Quyết định về quyền được tị nạn hoặc nhập cư.
  14. Điểm a, Điều 3 Công ước La Hay năm 1996 .
  15. Điều 88. Xác định cha, mẹ Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
  16. Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định rất rõ: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thực đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”. Nhóm tội phạm xâm phạm tới quyền sống, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người được quy định tại Chương XIV (từ Điều 123 đến Điều 156) của Bộ luật hình sự năm 2015.
  1. Căn cứ quy định tại Điều 75, 76 và 77 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì: Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác; Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý; Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con; Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ… Phá tán tài sản của con chưa thành niên có thể hiểu là hành vi sử dụng tài sản của con không phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng sử dụng tài sản của con, gây hậu quả nghiêm trọng từ việc sử dụng đối với tài sản riêng của con bao gồm: sử dụng tài sản của con dùng cho mục đích cá nhân của cha, mẹ; sử dụng tài sản của con với mục đích kinh doanh bất hợp pháp; thực hiện hành vi phá hoại tài sản của con, thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của con…
  2. Khoản 4 Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “không được xúi giục, ép buộc con làm những điều trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”.
  3. Điểm b, Điều 3 Công ước La Hay năm 1996. Nguyên văn: “ b) rights of custody, including rights relating to the care of the person of the child and, in particular, the right to determine the child’s place of residence, as well as rights of access including the right to take a child for a limited period of time to a place other than the child’s habitual residence”.
  4. Xem thêm: Danaya C.Wright – The cricis of Child Custody: A History of the Birth of Family Law in England – 11 Colum. J Gender & L.175 (2002). Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình 2014: “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.
  5. Điểm c, Điều 3 Công ước La Hay năm 1996. Nguyên văn: “c) guardianship, curatorship and analogous” institutions”.
  6. Điểm d, Điều 3 Công ước La Hay năm 1996. Nguyên văn: “d) the designation and functions of any person or body having charge of the child’s person or property, representing or assisting the child”.
  7. Điểm e, Điều 3 Công ước La Hay năm 1996. Nguyên văn: “the placement of the child in a foster family or in institutional care, or the provision of care by kafala or an analogous institution”.
  8. Điểm f, Điều 3 Công ước La Hay năm 1996. Nguyên văn: “f) the supervision by a public authority of the care of a child by any person having charge of the child”.
  9. Điểm g, Điều 3 Công ước La Hay năm 1996. Nguyên văn: “g) the administration, conservation or disposal of the child’s property”.
  10. Viện khoa học pháp lý (2019) “Báo cáo tổng hợp Đề tài khoa học cấp Bộ: Công ước La Hay năm 1980 về khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em: kinh nghiệm quốc tế về gia nhập, thực thi và các đề xuất đối với Việt Nam, 2019”.
  11. Toàn văn quyết định xem tại http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban? class_id=2&mode=detail&document_id=169326.
Chia sẻ bài viết:
  • Share on Facebook

Bài viết liên quan

Thực tiễn công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật
Thực tiễn công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật
Chuẩn mực quốc tế về bảo vệ quyền ưu tiên tư pháp của trẻ em phạm tội và tính tương thích trong BLHS 2015
Chuẩn mực quốc tế về bảo vệ quyền ưu tiên tư pháp của trẻ em phạm tội và tính tương thích trong BLHS 2015
Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại việt nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài
Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại việt nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài
Nội luật hóa quy định của công ước về chống tra tấn liên quan đến tài phán trong BLHS Việt Nam
Nội luật hóa quy định của Công ước về chống tra tấn liên quan đến tài phán trong Bộ luật Hình sự Việt Nam
Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế theo Công ước Luật Biển năm 1982 về lĩnh vực đánh bắt hải sản và bảo vệ môi trường
Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế theo Công ước Luật Biển năm 1982 về lĩnh vực đánh bắt hải sản và bảo vệ môi trường
Hạn chế của điều kiện về quyền tài phán của tòa án nước ngoài trong việc công nhận, thi hành bản án dân sự, thương mại của tòa án nước ngoài trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Hạn chế của điều kiện về quyền tài phán của tòa án nước ngoài trong việc công nhận, thi hành bản án dân sự, thương mại của tòa án nước ngoài trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Chuyên mục: Quốc tế/ Tư pháp quốc tế Từ khóa: Bảo vệ trẻ em/ Công nhận và cho thi hành Bản án quyết định tại Việt Nam/ Công ước La Hay 1996/ Quyền tài phán

Previous Post: « Mối quan hệ giữa Đảng ủy với Hội đồng trường và Hiệu trưởng trong các trường Đại học công lập Việt Nam
Next Post: Tổng quan những điểm mới của Luật Đầu tư năm 2020 »

Reader Interactions

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Primary Sidebar

Tìm kiếm nhanh tại đây:

Tài liệu học Luật

  • Trắc nghiệm Luật | Có đáp án
  • Nhận định Luật | Có đáp án
  • Bài tập tình huống | Đang cập nhật
  • Đề cương ôn tập | Có đáp án
  • Đề Thi Luật | Cập nhật đến 2021
  • Giáo trình Luật PDF | MIỄN PHÍ
  • Sách Luật PDF chuyên khảo | MIỄN PHÍ
  • Sách Luật PDF chuyên khảo | TRẢ PHÍ
  • Từ điển Luật học Online| Tra cứu ngay

Tổng Mục lục Tạp chí ngành Luật

  • Tạp chí Khoa học pháp lý
  • Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
  • Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
  • Tạp chí Kiểm sát
  • Tạp chí nghề Luật

Chuyên mục bài viết:

  • An sinh xã hội
  • Cạnh tranh
  • Chứng khoán
  • Cơ hội nghề nghiệp
  • Dân sự
    • Luật Dân sự Việt Nam
    • Tố tụng dân sự
    • Thi hành án dân sự
    • Hợp đồng dân sự thông dụng
    • Pháp luật về Nhà ở
    • Giao dịch dân sự về nhà ở
    • Thừa kế
  • Doanh nghiệp
    • Chủ thể kinh doanh và phá sản
  • Đất đai
  • Giáo dục
  • Hành chính
    • Luật Hành chính Việt Nam
    • Luật Tố tụng hành chính
    • Tố cáo
  • Hiến pháp
    • Hiến pháp Việt Nam
    • Hiến pháp nước ngoài
    • Giám sát Hiến pháp
  • Hình sự
    • Luật Hình sự – Phần chung
    • Luật Hình sự – Phần các tội phạm
    • Luật Hình sự quốc tế
    • Luật Tố tụng hình sự
    • Thi hành án hình sự
    • Tội phạm học
    • Chứng minh trong tố tụng hình sự
  • Hôn nhân gia đình
    • Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam
    • Luật Hôn nhân gia đình chuyên sâu
  • Lao động
  • Luật Thuế
  • Môi trường
  • Ngân hàng
  • Quốc tế
    • Chuyển giao công nghệ quốc tế
    • Công pháp quốc tế
    • Luật Đầu tư quốc tế
    • Luật Hình sự quốc tế
    • Thương mại quốc tế
    • Tư pháp quốc tế
    • Tranh chấp Biển Đông
  • Tài chính
    • Ngân sách nhà nước
  • Thương mại
    • Luật Thương mại Việt Nam
    • Thương mại quốc tế
    • Pháp luật Kinh doanh Bất động sản
    • Pháp luật về Kinh doanh bảo hiểm
    • Nhượng quyền thương mại
  • Sở hữu trí tuệ
  • Kiến thức chung
    • Đường lối Cách mạng ĐCSVN
    • Học thuyết kinh tế
    • Kỹ năng nghiên cứu và lập luận
    • Lý luận chung Nhà nước – Pháp luật
    • Lịch sử Nhà nước – Pháp luật
    • Lịch sử văn minh thế giới
    • Logic học
    • Pháp luật đại cương
    • Tư tưởng Hồ Chí Minh
    • Triết học

Quảng cáo:

Copyright © 2024 · Luật sư Online · Giới thiệu ..★.. Liên hệ ..★.. Tuyển CTV ..★.. Quy định sử dụng