Mục lục
Phát hành trái phiếu trong công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020
Tác giả: Trần Thị Thanh Thủy [1]
TÓM TẮT
Huy động vốn bằng phát hành trái phiếu riêng lẻ là một kênh huy động vốn đang được các công ty cổ phần ưa chuộng. Trước đây, hoạt động này được điều chỉnh bởi Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 4/12/2018, Nghị định số 81/2020/NĐ-CP ngày 9/7/2020. Tuy nhiên khi Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2020 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ đã được luật hóa và tiếp tục được hướng dẫn thi hành bởi Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 quy định về chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế. Bài viết tìm hiểu về các quy định về điều kiện phát hành trái phiếu, đối tượng tham gia mua trái phiếu, các loại trái phiếu, quy trình phát hành trái phiếu doanh nghiệp (DN) đối với công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng.

Nguồn vốn là điều kiện tiền đề quyết định sự tồn tại và phát triển, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của DN. Bên cạnh nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay đóng vai trò rất quan trọng, giúp các DN thực hiện hoặc mở rộng các dự án đầu tư, cơ cấu lại nguồn vốn, ổn định sản xuất kinh doanh… Trước đây theo phương thức truyền thống, DN thực hiện huy động vốn vay thông qua các tổ chức tín dụng, thông qua đối tác. Tuy nhiên những năm gần đây, huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu là một kênh huy động vốn từ các nhà đầu tư đang được DN chú ý và dần chiếm ưu thế là phương thức huy động chủ yếu của DN. Kênh huy động này hỗ trợ DN huy động vốn để phát triển kinh doanh, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng, giảm áp lực huy động vốn cho hệ thống ngân hàng thương mại, định hướng đầu tư trung và dài hạn thay vì gửi tiết kiệm ngắn hạn.
Trái phiếu DN được hiểu là loại chứng khoán có kỳ hạn 01 năm trở lên do DN phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của DN phát hành2. Nói một cách khác, trái phiếu là chứng chỉ chứng nhận nghĩa vụ nợ một khoản tiền nhất định của người phát hành đối với người sở hữu trái phiếu, trong một thời gian xác định (kỳ hạn của trái phiếu) với một lợi tức nhất định và người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu khoản tiền gốc khi đến ngày đáo hạn.
Trước đây việc phát hành trái phiếu riêng lẻ đối với các tổ chức phát hành không phải là công ty đại chúng được quy định tại Nghị định số số 163/2018/NĐ-CP ngày 04/12/2018 của Chính phủ quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp và Nghị định số 81/2020/NĐ-CP ngày 9/7/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2018/NĐ-CP. Khi sửa đổi LDN, những quy định này đã được các nhà làm luật luật hóa nhằm: (i) Bảo đảm tính nhất quán trong việc đưa ra các điều kiện phát hành, quản trị DN cũng như quá trình xem xét chấp thuận, giám sát, thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền đối với đối tượng công ty đại chúng và công ty không phải công ty đại chúng; (ii) Giảm thiểu những khó khăn cho DN trong việc áp dụng các quy định của pháp luật theo đó DN không phải là công ty đại chúng thì việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ và trái phiếu riêng lẻ đều được áp dụng thống nhất bởi các quy định của LDN. Phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ (trái phiếu) của công ty cổ phẩn (CTCP) không phải là công ty đại chúng.
Phát hành trái phiếu riêng lẻ trong CTCP là phát hành trái phiếu cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc không phải là bán trên các phương tiện thông tin đại chúng và bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định. Có thể nói, phát hành trái phiếu riêng lẻ có quy mô, độ phức tạp thấp hơn so với phát hành trái phiếu ra công chúng và được LDN năm 2020 và Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 cụ thể hóa bởi một số các quy định sau đây.
1. Đối tượng và điều kiện để được phát hành trái phiếu
Huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu là quyền của một số loại hình DN theo quy định của LDN năm 2020 trong đó có CTCP được thành lập và hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam3.
Trên thực tế, có những trường hợp CTCP phát hành trái phiếu nhằm mục đích huy động vốn để chi trả cho một nghĩa vụ khác hay để đầu tư cho một dự án không khả thi và điều này dẫn đến rủi ro cho các nhà đầu tư. Trái phiếu với bản chất là một khoản nợ phải trả của DN, do đó việc phát hành trái phiếu được thực hiện trên nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn và đảm bảo khả năng trả nợ. Ngoài ra, khi phát hành trái phiếu DN phát hành phải nêu rõ mục đích phát hành trái phiếu tại phương án phát hành và công bố thông tin cho các nhà đầu tư nhằm tránh trường hợp các DN phát hành với những mục đích không tốt gây rủi ro cho các nhà đầu tư. Mục đích huy động vốn có thể là: Để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư; tăng quy mô vốn hoạt động, cơ cấu lại nguồn vốn của chính DN.
DN muốn phát hành trái phiếu không chuyển đổi không kèm theo chứng quyền (không bao gồm việc chào bán trái phiếu của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không phải là công ty đại chúng) phải đáp ứng các điều kiện chung như sau4:
Là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam;
Đảm bảo thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành hoặc thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn trong 3 năm liên tiếp trước đợt phát hành trái phiếu (nếu có); trừ trường hợp chào bán trái phiếu cho chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn;
Đáp ứng các tỷ lệ an toàn tài chính, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành;
Có phương án phát hành trái phiếu được phê duyệt và chấp thuận theo quy định;
Có báo cáo tài chính năm trước đó được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện;
Đối tượng tham gia đợt chào bán là các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.
Trường hợp DN là công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không phải là công ty đại chúng khi phát hành loại trái phiếu trên thì chỉ cần tuân theo các điều kiện trừ mục (ii) như đã nêu trên.
Còn đối với loại trái phiếu đặc thù là trái phiếu chuyển đỏi, trái phiếu kèm theo chứng quyền thì khi DN muốn phát hành cần phải đáp ứng các điều kiện sau5:
DN phải là công ty cổ phần;
Đối tượng mua trái phiếu là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, nhà đầu tư chiến lược trong đó nhà đầu tư chiến lược phải đảm bảo dưới 100 nhà đầu tư;
Đảm bảo thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành hoặc thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn trong 3 năm liên tiếp trước đợt phát hành trái phiếu (nếu có); trừ trường hợp chào bán trái phiếu cho chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn;
Đáp ứng các tỷ lệ an toàn tài chính, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành;
Có phương án phát hành trái phiếu được phê duyệt và chấp thuận theo quy định;
Có báo cáo tài chính năm trước đó được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện.
Ngoải ra DN cần lưu ý khi chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu, thực hiện chứng quyền phải thực hiện đáp ứng quy định về tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.
Mặt khác, để thực hiện việc huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, CTCP có quyền phát hành trái thành nhiều đợt và phải có phương án phát hành trong đó dự kiến cụ thể về khối lượng, thời điểm và kế hoạch sử dụng vốn của từng đợt chào bán. Việc phát hành trái phiếu không chuyển đổi thì thời gian phân phối trái phiếu từng đợt không vượt quá 90 ngày kể từ ngày công bố thông tin; hết thời hạn 90 ngày CTCP phải dừng phát hành và chốt số liệu trái phiếu đã phát hành của đợt phát hành đó; tổng thời gian chào bán của các đợt không quá 12 tháng kể từ ngày phát hành của đợt chào bán đầu tiên. Việc phát hành các đợt trái phiếu kèm theo chứng quyền, trái phiếu chuyển đổi thì các đợt phải cách nhau ít nhất 6 tháng kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán gần nhất6.
CTCP khi phát hành trái phiếu phải có nghĩa vụ thực hiện việc sử dụng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu có trách nhiệm: đảm bảo sử dụng đúng mục đích theo phương án phát hành được phê duyệt và nội dung công bố thông tin cho nhà đầu tư; bố trí nguồn trả nợ lãi, gốc trái phiếu từ các nguồn vốn hợp pháp của DN và thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho nhà đầu tư theo các điều khoản, điều kiện của trái phiếu và đảm bảo các quyền kèm theo cho chủ sở hữu trái phiếu; chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của các thông tin đã công bố và báo cáo tài chính; bị xử phạt vi phạm hành chính khi không tuân thủ các quy định về quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động phát hành trái phiếu.
2. Các loại trái phiếu mà công ty cổ phần được phát hành
Theo quy định của LDN năm 2020 và Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020, CTCP có thể phát hành các loại trái phiếu sau:
Trái phiếu DN xanh
Là loại trái phiếu DN được phát hành để đầu tư cho dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường, dự án mang lại lợi ích về môi trường theo quy định của luật bảo vệ môi trường. Trái phiếu xanh giống như các loại trải phiếu khác ở các điểm: Là chứng khoán nợ giống như các loại trái phiếu khác, có lãi suất hoặc không lãi suất; được xếp hạng tín nhiệm bởi các tổ chức định mức tín nhiệm. Tuy nhiên số tiền thu được sau khi trừ các chi phí liên quan đến đợt chào bán được sử dụng để tài trợ hoặc tái tài trợ cho các dự án xanh, các dự án vì môi trường hoặc có tính đến lợi ích môi trường, trong khi các loại trái phiếu khác có thể sử dụng để tài trợ cho nhiều dự án khác có thể không phải là dự án xanh. Do đặc điểm của trái phiếu xanh là huy động vốn cho các dự án xanh – loại dự án có lợi nhuận thấp, một số dự án có thể có rủi ro, nên so với các loại trái phiếu khác trái phiếu xanh có các điều khoản cụ thể về trả nợ, truy đòi/miễn truy đòi tổ chức phát hành.
Trái phiếu chuyển đổi
Là loại hình trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của chính DN phát hành theo điều kiện, điều khoản đã được xác định tại phương án phát hành. Đây là trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu thường vào một thời điểm được xác định trước trong tương lai. Loại trái phiếu này có đặc điểm là lãi suất cố định và tương đối thấp hơn so với các loại trái phiếu khác nhưng lại hứa hẹn đem lại cho nhà đầu tư lợi nhuận lớn hơn khi chuyển đổi thành loại cổ phiếu thường của công ty. Đây chính là điểm hấp dẫn của trái phiếu chuyển đổi. Có thể nói rằng, trái phiếu chuyển đổi được coi là một sản phẩm lồng ghép giữa trái phiếu DN và quyền mua cổ phiếu do chính DN phát hành. Quyền mua cổ phiếu cho phép người nắm giữ có quyền, mà không có nghĩa vụ mua cổ phiếu tại một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định trước.
Trái phiếu có bảo đảm
Là loại hình trái phiếu được bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần lãi, gốc khi đến hạn bằng tài sản của DN phát hành hoặc tài sản của bên thứ ba theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm, hoặc được bảo lãnh thanh toán theo quy định của pháp luật.
Trái phiếu kèm chứng quyền
Là loại hình trái phiếu được công ty cổ phần phát hành kèm theo chứng quyền, cho phép người sở hữu chứng quyền được mua một số cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp pháp hành theo điều kiện, điều khoản đã được xác định tại phương án phát hành trái phiếu.
Trái phiếu do CTCP phát hành gồm các nội dung cơ bản sau:
– Kỳ hạn trái phiếu: là thời gian được tính từ lúc trái phiếu được phát hành cho đến khi đáo hạn. Theo đó ngày đáo hạn là ngày mà tổ chức phát hành phải mua lại trái phiếu. Ngoài ra thì trong khoảng thời gian từ khi phát hành cho đến ngày đáo hạn, CTCP có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi theo cam kết cho người nắm giữ trái phiếu. Kì hạn trái phiếu do CTCP phát hành quyết định đối với từng đợt chào bán căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn của DN.
– Khối lượng phát hành: Do CTCP phát hành quyết định đối với từng đợt chào bán căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn của DN.
– Đồng tiền phát hành và thanh toán: Đối với trái phiếu chào bán tại thị trường trong nước, đồng tiền phát hành, thanh toán lãi, gốc trái phiếu là đồng Việt Nam. Đối với trái phiếu chào bán ra thị trường quốc tế, đồng tiền phát hành, thanh toán lãi, gốc trái phiếu là ngoại tệ theo quy định tại thị trường phát hành và tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
– Mệnh giá trái phiếu: Mệnh giá trái phiếu hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là giá trị được ghi trực tiếp trên trái phiếu. Giá trị này được xem là số vốn gốc. Mệnh giá trái phiếu được xem là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả cho người sở hữu. Bên cạnh đó thì mệnh giá cũng thể hiện số tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn. Đối với trái phiếu chào bán tại thị trường trong nước, mệnh giá là một trăm nghìn (100.000) Đồng Việt Nam hoặc bội số của một trăm nghìn (100.000) Đồng Việt Nam. Đối với trái phiếu chào bán ra thị trường quốc tế, mệnh giá thực hiện theo quy định tại thị trường phát hành.
– Hình thức trái phiếu: Trái phiếu được chào bán dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử. CTCP phát hành quyết định cụ thể hình thức trái phiếu đối với mỗi đợt chào bán theo quy định tại thị trường phát hành.
– Lãi suất danh nghĩa trái phiếu: Lãi suất danh nghĩa trái phiếu có thể xác định theo một trong các phương thức: Lãi suất cố định cho cả kỳ hạn trái phiếu; lãi suất thả nổi; hoặc kết hợp giữa lãi suất cố định và thả nổi.
Trường hợp lãi suất danh nghĩa là lãi suất thả nổi hoặc kết hợp giữa lãi suất cố định và thả nổi, DN phát hành phải nêu cụ thể cơ sở tham chiếu để xác định lãi suất danh nghĩa tại phương án phát hành và công bố thông tin cho nhà đầu tư mua trái phiếu về cơ sở tham chiếu được sử dụng.
DN phát hành quyết định lãi suất danh nghĩa cho từng đợt chào bán phù hợp với tình hình tài chính và khả năng thanh toán nợ. Lãi suất trái phiếu do tổ chức tín dụng phát hành ngoài việc tuân thủ quy định tại Nghị định số 153/2020/NĐ- CP phải phù hợp với quy định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
– Loại hình trái phiếu: Do DN phát hành quyết định theo quy định của pháp luật.
– Phương thức thanh toán lãi, gốc trái phiếu:
Do CTCP phát hành quyết định căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn và thông lệ thị trường phát hành để công bố cho nhà đầu tư trước khi chào bán trái phiếu. Đối với trái phiếu được bảo đảm bằng tài sản, khi DN phát hành không trả được nợ lãi, gốc trái phiếu thì tài sản bảo đảm sẽ được xử lý để thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm của trái phiếu theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Đối với trái phiếu được bảo lãnh thanh toán, khi DN phát hành không trả được nợ lãi, gốc thì tổ chức bảo lãnh thanh toán có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thanh toán cho DN phát hành theo cam kết bảo lãnh giữa tổ chức bảo lãnh thanh toán và DN phát hành nêu tại phương án phát hành trái phiếu và đã được công bố thông tin cho nhà đầu tư.
3. Các phương thức phát hành trái phiếu
CTCP lựa chọn và công bố cho các nhà đầu tư một trong các phương thức sau để thực hiện việc phát hành trái phiếu:
Đấu thầu phát hành: Là phương thức lựa chọn nhà đầu tư đủ điều kiện trúng thầu mua trái phiếu đáp ứng yêu cầu của DN phát hành.
Bảo lãnh phát hành: Là phương thức bán trái phiếu DN cho nhà đầu tư mua trái phiếu thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành.
Bảo lãnh phát hành thông thường được thực hiện bằng 2 phương thức sau: Tổ chức bảo lãnh mua số lượng trái phiếu được phép để phân phối bán lại hoặc Tổ chức bảo lãnh mua lại toàn bộ số trái phiếu chưa được phân phối hết của đợt phát hành. Phát hành thông qua sự tham gia của tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ đảm bảo cho DN thu đủ nguồn vốn có nhu cầu huy động thông qua đợt phát hành.
Đại lý phát hành: Là phương thức DN phát hành ủy quyền cho một tổ chức khác thực hiện bán trái phiếu cho nhà đầu tư mua trái phiếu.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành trái phiếu doanh nghiệp gồm công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng và các định chế tài chính khác được phép cung cấp dịch vụ đấu thầu, bảo lãnh và đại lý phát hành theo quy định của pháp luật.
Khi DN quyết định sử dụng hình thức phát hành nào thì ký kết hợp đồng dịch vụ và các tổ chức tư vấn phát hành, đấu thầu, đại lý, bảo lãnh là đơn vị rà soát việc tuân thủ quy định về giới hạn số lượng nhà đầu tư khi phát hành riêng lẻ.
Bán trực tiếp cho nhà đầu tư trái phiếu đối với DN phát hành là tổ chức tín dụng.
4. Đối tượng được mua trái phiếu
Theo số liệu báo cáo của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, trong năm 2020 đã có 2.408 đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ với tổng giá trị phát hành thành công đạt 403,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 69% tổng giá trị đăng ký, tăng 35,9% so với năm 20197. Điều đó cho thấy, thị trường trái phiếu DN hiện đang có sự phát triển nhanh và chuyển dịch dần kênh huy động vốn từ tín dụng ngân hàng sang phát hành trái phiếu DN. Do lãi suất trái phiếu DN cao hơn so với tiền gửi ngân hàng, đặc biệt là trái phiếu của các DN bất động sản cao hơn so với mặt bằng lãi suất trái phiếu trên thị trường nên kênh huy động vốn này trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Tuy nhiên việc phát hành trái phiếu riêng lẻ của công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là khi các nhà đầu tư là cá nhân nhỏ, lẻ đầu tư vào trái phiếu DN riêng lẻ có ít thông tin và khả năng phân tích, đánh giá rủi ro hoặc khi các DN lạm dụng, triển khai các hình thức huy động vốn trái phiếu thiếu minh bạch sẽ gây rủi ro cho các nhà đầu tư.
Để hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư mua trái phiếu và hạn chế DN lạm dụng phương thức này huy động vốn, LDN năm 2020 quy định đối tượng được mua và chuyển nhượng trái phiếu chỉ giới hạn cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và nhà đầu tư chiến lược nhằm thu hút các nhà đầu tư có định hướng và chiến lược trở thành cổ đông của DN8. Như vậy, không phải nhà đầu tư nào cũng có thể tham gia mua trái phiếu DN riêng lẻ như trước đây. Tuy nhiên, Luật chứng khoán năm 2019 đã mở rộng diện nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp bao gồm cả nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức thay vì chỉ có nhà đầu tư tổ chức như trước đây. Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp cá nhân là người có chứng chỉ hành nghề chứng khoán; cá nhân nắm giữ danh mục đầu tư ít nhất 2 tỷ đồng hoặc cá nhân có thu nhập chịu thuế ít nhất 1 tỷ đồng9. Quy định hạn chế này không làm ảnh hưởng đến quyền của nhà đầu tư khác không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và lợi ích của DN vì: nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp muốn đầu tư vào công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng thông qua các đợt phát hành trái phiếu có thể ủy thác đầu tư trái phiếu thông qua nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; DN có thể phát hành trái phiếu ra công chúng để huy động vốn từ nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp.
Như vậy, khi CTCP phát hành chào bán trái phiếu tại thị trường trong nước, đối với trái phiếu không chuyển đổi không kèm chứng quyền, đối tượng mua trái phiếu phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật chứng khoán; đối với trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm chứng quyền, đối tượng mua trái phiếu phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, nhà đầu tư chiến lược, trong đó số lượng nhà đầu tư chiến lược phải đảm bảo dưới 100 nhà đầu tư10.
5. Quy trình phát hành trái phiếu
CTCP khi muốn huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu, phải thực hiện theo các bước sau11:
Bước 1: CTCP phát hành phải kí hợp đồng với tổ chức cung cấp dịch vụ về việc tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu. DN có thể phối hợp việc kí kết hợp đồng về tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành trái phiếu phù hợp với phương án phát hành. Tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn có thể là công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng và các định chế tài chính khác được phép cung cấp dịch vụ tư vấn hồ sơ phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật. Khi tư vấn về hồ sơ phát hành, tổ chức tư vấn có trách nhiệm rà soát hồ sơ phát hành và việc đáp ứng các quy định về điều kiện phát hành đặc biệt là chịu trách nhiệm về việc tuân thủ quy định về giới hạn số lượng nhà đầu tư tham gia đợt phát hành trái phiếu (dưới 100 nhà đầu tư không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp).
Bước 2: DN phát hành xây dựng và trình phương án phát hành trái phiếu với cơ thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận để làm cơ sở cho việc phát hành trái phiếu và công bố cho các nhà đầu tư mua trái phiếu. Hồ sơ và phương án chào bán trái phiếu được thực hiện theo quy định của pháp luật12.
Theo đó, phương án chào bán trái phiếu chuyển đổi và chào bán trái phiếu kèm chứng quyền phải được Đại hội đồng cổ đông phê duyệt; phương án chào bán trái phiếu không chuyển đổi không kèm theo chứng do cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều lệ DN quyết định. Nếu điều lệ công ty không có quy định khác thì Hội đồng quản trị có quyền phê duyệt nhưng phải báo cáo Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp gần nhất kèm theo tài liệu và hồ sơ chào bán trái phiếu. Đối với CTCP là DN nhà nước, DN còn phải tuân thủ quy định về giới hạn huy động vốn theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước vào đầu tư sản xuất kinh doanh tại DN. Đối với các CTCP thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện, ngoài thẩm quyền phê duyệt theo quy định trên còn phải tuân thủ phương án phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật chuyên ngành (nếu có).
Đối với DN là công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, hồ sơ chào bán trái phiếu còn phải được gửi và được sự chấp thuận bằng văn bản của Uỷ ban chứng khoán nhà nước (UBDKNN).
Bước 3: CTCP phát hành công bố thông tin trong thời hạn 01 ngày làm việc trước ngày phát hành trái phiếu cho các nhà đầu tư đăng ký mua trái phiếu và DN phát hành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung và tính chính xác, trung thực của thông tin công bố. Việc công bố thông tin không được chứa đựng nội dung có tính chất quảng cáo, mời chào và không thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, trừ trường hợp công bố thông tin theo quy định của pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Nội dung công bố thông tin này còn phải gửi cho Sở giao dịch chứng khoán. Trường hợp CTCP chào bán trái phiếu thành nhiều đợt thì các lần phát hành tiếp theo, DN phải công bố thông tin bổ sung cho nhà đầu tư và gửi cho Sở giao dịch chứng khoán.
Bước 4: CTCP thực hiện việc chào bán trái phiếu thông qua tổ chức dịch vụ đã kí kết tùy thuộc vào phương thức phát hành trái phiếu đã lựa chọn. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công bố thông tin, DN phải dừng phát hành và chốt số lượng trái phiếu đã phát hành. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành đợt chào báo trái phiếu, CTCP phải công bố thông tin về kết quả đợt chào bán cho các nhà đầu tư sở hữu trái phiếu và gửi thông tin đến Sở giao dịch chứng khoán.
Bước 5: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán trái phiếu hoặc 05 ngày làm việc kể từ ngày UBCKNN phiếu kèm theo chứng quyền riêng lẻ của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thì CTCP phát hành phải thực hiện đăng ký, lưu ký trái phiếu tại một tổ chức đăng ký, lưu ký trái phiếu./.
CHÚ THÍCH
- Giảng viên Khoa Đào tạo Luật sư, Học viện Tư pháp.
- Thạc sỹ, Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020.
- Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 153/NĐ-CP ngày 31/12/2020.
- Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 153/NĐ-CP ngày 31/12/2020.
- Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 153/NĐ-CP ngày 31/12/2020.
- Điểm d Khoản 3 Điều 9, Điều 10 Nghị định số 153/NĐ-CP ngày 31/12/2020.
- http://tapchitaichinh.vn/kinh-te-vi-mo/nam-2020-tong-gia-tri-phat-hanh-trai-phieu-doanh-nghiep-rieng-le-thanh- cong-tang-331484.html.
- Khoản 2 Điều 128 LDN số 59/2020/QH14 ngày 17/6/2020.
- Điều 11 Luật chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26/11/2019.
- Điều 8 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020.
- Điều 129 LDN số 59/2020/QH14 ngày 17/6/2020, Điều 11 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020.
- Khoản 3,4 Điều 12, Khoản 1 Điều 13, Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020.






Trả lời