• Trang chủ
  • Hiến pháp
  • Hình sự
  • Dân sự
  • Hành chính
  • Hôn nhân gia đình
  • Lao động
  • Thương mại

Luật sư Online

Tư vấn Pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, ly hôn, thừa kế, đất đai

  • Kiến thức chung
    • Học thuyết kinh tế
    • Lịch sử NN&PL
  • Cạnh tranh
  • Quốc tế
  • Thuế
  • Ngân hàng
  • Đất đai
  • Ngành Luật khác
    • Đầu tư
    • Môi trường
 Trang chủ » Một số vướng mắc và giải pháp về giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự

Một số vướng mắc và giải pháp về giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự

27/10/2021 27/10/2021 CTV. Thảo Uyên Leave a Comment

Mục lục

  • TÓM TẮT
  • 1. Vướng mắc về giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự theo quy định pháp luật hiện hành và kiến nghị giải pháp hoàn thiện
  • 2. Vướng mắc áp dụng pháp luật và giải pháp hoàn thiện quy định giải quyết tố cáo về thi hành án dân sự
  • CHÚ THÍCH
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Một số vướng mắc và giải pháp về giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự

Tác giả: Trần Văn Duy [1] & Nguyễn Thị Phương Thảo [2]

TÓM TẮT

Tố cáo (TC) trong thi hành án dân sự (THADS) cũng là một trong những phương thức thực hiện giám sát của nhân dân đối với hệ thống THADS trong hoạt động tổ chức thi hành các bản án có hiệu lực pháp luật. Phương thức này yêu cầu các cơ quan THADS phải  giải quyết TC của công dân. Qua giải quyết tố cáo giúp cơ quan THADS kịp thời phát hiện vi phạm, có biện pháp khắc phục, ngăn ngừa vi phạm tương tự xảy ra, có hình thức xử lý các cá nhân để xảy ra vi phạm hoặc xử lý các cá nhận lợi dung quyền TC để vu khống người thi hành công vụ. Bài viết nghiên cứu những vướng mắc về giải quyết tố cáo trong THADS theo quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp trong giải quyết TC về THADS.

Một số vướng mắc và giải pháp về giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự

Tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013 và được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật TC năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành án Luật TC. Theo đó, chủ thể có quyền TC là công dân, quyền này được pháp luật tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ. Tố cáo còn là một phương thức thực hiện quyền tự do, dân chủ, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bức xúc trong nhân dân, đồng thời cũng là phương thức để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, quyền kiểm tra, giám sát đối với bộ máy nhà nước.

Xem thêm tài liệu liên quan:

  • Hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam - Thực tiễn và một số giải pháp

Trong những năm gần đây, công tác giải quyết TC về THADS đã được hệ thống THADS thực hiện bài bản có những thành tựu nhất định:

Việc giải quyết TC được thực hiện theo trình tự pháp luật quy định, đa số các kết luận giải quyết TC đều thấu tình đạt lý, đảm bảo quyền của công dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giải quyết TC còn một số tồn tại, hạn chế: Quy định pháp luật về TC trong THADS còn chưa đầy đủ, đồng bộ với pháp luật chung về TC, còn vấn đề phát sinh từ thực tiễn chưa được pháp luật quy định. Đồng thời, tình hình TC trong THADS còn diễn biến phức tạp, theo xu hướng ngày càng nhiều: Theo phân tích số liệu 4 năm trở lại đây (từ năm 2014 đến năm 2020), tổng số đơn thư TC thuộc thẩm quyền cơ quan THADS đều tăng hàng năm: Năm 2017 tăng 9,5%, năm 2018 tăng 7,5%, năm 2019 tăng 26%3. Trong đó, số việc tố cáo hành vi của chấp hành viên chiếm phần lớn nhưng số việc TC hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS cũng ngày càng gia tăng; đồng thời, còn tình trạng khiếu nại không đạt được mục đích chuyển sang TC hoặc lợi dụng quyền TC,… Để góp phần, khắc phục các tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác giải quyết TC trong THADS, bài viết đi vào phân tích, đánh giá các vướng mắc về quy định pháp luật giải quyết TC trong THADS, vướng mắc trong thực tiễn và đưa ra một số giải pháp.

1. Vướng mắc về giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự theo quy định pháp luật hiện hành và kiến nghị giải pháp hoàn thiện

Năm 2018, Luật TC mới ban hành cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành trong khi Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành nên đã có một số quy định pháp luật về giải quyết tố cáo đã được sửa đổi hoặc quy định mới. Do đó, dẫn đến có những trường hợp điều chỉnh cùng một vấn đề nhưng lại quy định khác nhau giữa Luật TC năm 2018 và Luật THADS năm 2014; hoặc về vấn đề được quy định mới trong Luật TC năm 2018 nhưng Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa điều chỉnh thì khi áp dụng vào trường hợp vụ việc THADS cụ thể sẽ áp dụng như thế nào.

Thứ nhất, quy định khác nhau giữa Luật tố cáo và Luật thi hành án dân sự, các văn bản hướng dẫn thi hành về giải quyết tố cáo.

Về thụ lý tố cáo, thời hạn thụ lý TC quy định tại Điều 24 Luật TC là 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, trường hợp đủ điều kiện thụ lý thì ban hành Quyết định thụ lý TC. Trường hợp phức tạp, cần xác minh, kiểm tra thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày làm việc. Trong khi Điều 16 Thông tư số 02/2016/TT­ BTP hướng dẫn quy trình giải quyết khiếu nại, TC, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong THADS vẫn căn cứ Luật TC năm 2011 quy định thời hạn thụ lý TC là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn TC dẫn đến lúng túng khi áp dụng.

Về thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cấp phó của người đứng đầu, Điều 12 Luật TC năm 2018 quy định: “Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết” thì người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết TC.

Đặc biệt, trong thực tiễn còn lúng túng trong việc thống nhất nhận thức áp dụng quy định pháp luật khi xác định thẩm quyền giải quyết TC hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức xảy ra trong thời gian công tác trước đây nay đã chuyển sang cơ quan, tổ chức khác hoặc không còn là cán bộ, công chức, viên chức, căn cứ quy định pháp luật nêu trên, chúng ta cần áp dụng như sau: Nếu người bị TC cấp phó của người đứng đầu đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác mà không còn giữ chức vụ tương đương thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức quản lý người bị TC tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật chủ trì giải quyết thay cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đang quản lý người bị TC phối hợp giải quyết có được hay không thì chưa có quy định cụ thể rõ ràng. Trường hợp người bị TC đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác và là cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã quản lý người bị TC tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật phối hợp giải quyết.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 157 Luật THADS: “1. TC hành vi vi phạm pháp luật mà người bị TC thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết” thì thẩm quyền giải quyết TC đối với cấp phó lại thuộc thẩm quyền của người đứng đầu cơ quan quản lý người bị TC giải quyết. Việc quy định khác nhau về thẩm quyền giải quyết TC đối với cấp phó giữa Luật TC và Luật THADS dẫn đến sự hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất trong Hệ thống THADS.

Về thời hạn giải quyết tố cáo, Điều 157 Luật THADS năm 2014 quy định thời hạn giải quyết TC là 60 ngày kể từ ngày thụ lý TC. Trong khi Điều 30 Luật TC năm 2018 quy định thời hạn giải quyết TC là 30 ngày kể từ ngày thụ lý TC. Ngoài ra, trong thời hạn giải quyết TC, Luật TC năm 2018 đã quy định riêng thời hạn giải quyết cho những vụ việc TC phức tạp thì không quá 60 ngày hoặc vụ việc TC đặc biệt phức tạp thì không quá 90 ngày. Theo đó, Điều 3 Nghị định số 31/2019/NĐ đã đưa ra các tiêu chí vụ việc TC phức tạp và vụ việc TC đặc biệt phức tạp để xác định thời hạn giải quyết trong khi Luật THADS năm 2014 có quy định về gia hạn giải quyết vụ việc TC phức tạp nhưng không có tiêu chí xác định vụ việc TC phức tạp. Tuy nhiên, đây không phải sự khác nhau thời hạn giải quyết tố cáo mà cần có sự nhận thức quan điểm về áp dụng pháp luật là ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành.

Ví dụ: Ngày 12/4/2019, Cục trưởng Cục THADS tỉnh X ban hành Quyết định số 155/QĐ­ CTHADS thụ lý TC của ông Nguyễn Văn A, TC: Ông B, Nguyên Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện C; ông D, Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện C không thực hiện Kết luận của Tổng cục THADS, Kết luận của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh X.

Ngày 17/7/2019, Cục trưởng Cục THADS tỉnh X ban hành Kết luận giải quyết TC số 17/KL­CTHADS với nội dung: TC đúng một phần.

Trong vụ việc này, Cục THADS tỉnh X đã căn cứ Điều 157 Luật THADS gia hạn một lần để giải quyết TC vì xác định là vụ việc đặc biệt phức tạp theo các tiêu chí sau:

­ Người bị TC gồm 02 người (trong đó 01 công chức đã nghỉ hưu);

­ Nội dung TC liên quan đến việc xử lý tài sản và thanh toán tiền thi hành án cho nhiều người;

­ Các cơ quan liên quan trong quá trình giải quyết TC còn có nhiều quan điểm khác nhau (Viện kiểm sát nhân dân tỉnh X, Tổng cục THADS còn có quan điểm khác nhau về thỏa thuận xử lý tài sản thi hành án) cần trao đổi, thống nhất hướng giải quyết trước khi ban hành kết luận giải quyết TC”.

Việc pháp luật THADS không quy định tiêu chí vụ việc TC phức tạp, đặc biệt phức tạp để xác định thời hạn giải quyết TC sẽ dẫn đến việc áp dụng tùy tiện, mỗi một cơ quan THADS sẽ tự đưa ra các tiêu chí khác nhau và có nguy cơ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Hơn nữa, trong Luật THADS và Luật TC quy định về thời hạn chưa sát thực tiễn, bởi lẽ, thực tế qua khảo sát, nắm tình hình ở nhiều địa phương, ngành thi hành án, cho thấy có nhiều vụ việc tố cáo có nội dung phức tạp, phải xác minh tại nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhiều địa phương, đó đó, việc giải quyết TC theo đúng thời hạn quy định gặp nhiều khó khăn. Thiết nghĩ cần phải có quy định cụ thể về thời hạn giải quyết TC, đặc biệt nới rộng thời hạn giải quyết TC đối với những vụ việc TC phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, ngành đảm bảo việc giải quyết TC phù hợp hơn với thực tiễn.

Giải pháp: Tăng cường hướng dẫn chi tiết thi hành pháp luật chuyên ngành về quy định tại Điều 3 về áp dụng pháp luật về TC và giải quyết tố cáo của Luật TC năm 2018: “1. TC và giải quyết tố cáo được áp dụng theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp luật khác có quy định về TC và giải quyết TC khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của luật đó” thì áp dụng Luật THADS. Qua việc hướng dẫn này để việc nhận thức quy định pháp luật. Bởi lẽ, vấn đề còn lại là hiểu luật cho đúng để áp dụng.

Thứ hai, quy định pháp luật mới về giải quyết tố cáo mà pháp luật về thi hành án dân sự chưa quy định hoặc quy định chưa rõ ràng.

Về tiếp nhận, xử lý thông tin có nội dung TC, Điều 25 Luật TC năm 2018 quy định mới: Về việc tiếp nhận và xử lý đối với các thông tin xác định có nội dung TC. Theo đó, không xử lý đối với trường hợp thông tin có nội dung TC nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người TC hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người TC hoặc người TC sử dụng họ tên của người khác để TC hoặc thông tin có nội dung TC được phản ánh bằng đơn TC. Đồng thời, quy định mới về việc tiếp nhận, thanh tra, kiểm tra phục vụ công tác quản lý, trường hợp thông tin có nội dung TC rõ ràng về người có hành vi vi phạm pháp luật, có tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra, xác minh. Đây có thể coi là tiếp nhận, xử lý nội dung tố cáo nặc danh phục vụ cho công tác quản lý, điều hành. Tuy nhiên, chưa có quy định hướng dẫn về trình tự, thủ tục tiếp nhận, hình thức xử lý và khi xử lý, giải quyết TC trong THADS thì áp dụng như thế nào.

Về thụ lý TC, lần đầu tiên, Luật TC năm 2018 đã đưa ra các điều kiện để thụ lý TC tại Điều 29 trong khi Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định về vấn đề này. Theo đó, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo thụ lý TC khi đủ 04 điều kiện về hình thức TC; chủ thể TC bao gồm họ tên, địa chỉ, năng lực hành vi dân sự; thẩm quyền giải quyết và nội dung TC. Với các điều kiện thụ lý rõ ràng này đã giúp người có thẩm quyền giải quyết thuận lợi hơn trong việc kiểm tra, rà soát để ban hành Quyết định thụ lý TC.

Đặc biệt, để giải quyết tình trạng lúng túng trong việc giải quyết các vụ việc khiếu nại đã được giải quyết đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật nhưng người khiếu nại không đồng ý mà chuyển sang tố cáo người đã giải quyết khiếu nại. Trong trường hợp này, Luật TC năm 2018 quy định chỉ thụ lý TC khi người TC cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ để xác định người giải quyết khiếu nại có hành vi vi phạm pháp luật. Theo quy định nêu trên, cơ quan có thẩm quyền chỉ xem xét, giải quyết TC đối với người giải quyết khiếu nại khi có căn cứ xác định việc giải quyết khiếu nại là không đúng, nội dung khiếu nại chưa được giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Thực tế, giải quyết TC về THADS cũng gặp không ít trường hợp công dân TC với nội dung nêu trên nhưng pháp luật về THADS chưa có quy định.

Về trình tự, thủ tục giải quyết TC, Quy định về “trình tự giải quyết TC” có thay đổi, Luật TC năm 2018 quy định trình tự giải quyết TC chỉ bao gồm 4 bước4. Cơ bản thay đổi ở bước đầu tiên về thụ lý TC và bỏ quy định về “Công khai kết luận nội dung TC, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị TC” theo hướng hạn chế trường hợp công khai kết luận nội dung TC. Tuy nhiên, trong Thông tư số 02/2016/TT­BTP quy định có 5 bước5 là không phù hợp.

Về rút TC, hiện nay, Luật TC năm 2018 và Nghị định số 31/2019/NĐ­CP có quy định nhiều trường hợp công dân rút TC trước khi cơ quan có thẩm quyền ban hành kết luận nội dung TC, trong đó có nhiều trường hợp chưa được quy định trong pháp Luật THADS, đồng thời ban hành các biểu mẫu văn bản áp dụng trong trường hợp này. Điều 17 Thông tư số 02/2016/TT­BTP hướng dẫn quy trình giải quyết đơn thư khiếu nại, TC, đề nghị, kiến nghị, phản ánh về THADS có quy định về vấn đề này nhưng chưa đầy đủ.

Về thời điểm rút TC, Khoản 1 Điều 33 Luật TC quy định, người TC có quyền rút TC trước khi ban hành kết luận giải quyết TC. Tuy nhiên Khoản 1 Điều 17 Thông tư số 02/2016/TT­BTP hướng dẫn quy trình giải quyết khiếu nại, TC, đề nghị, kiến nghị, phản ánh về THADS không quy định thời điểm rút tố cáo dẫn đến cách hiểu có thể rút tố cáo bất kỳ khi nào, không thống nhất với quy định của Luật TC.

Về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết TC, quá trình giải quyết TC, có vụ việc cần phải đợi kết quả giải quyết của các cơ quan, tổ chức hữu quan hoặc chờ kết quả giải quyết các vụ việc khác có liên quan kéo dài, vượt quá thời hạn giải quyết TC dẫn đến vi phạm trong khi pháp luật chưa có quy định loại trừ thời gian chờ đợi kết quả giải quyết các cơ quan này nên cần tạm đình chỉ giải quyết TC. Hoặc có những vụ việc công dân TC sau đó lại rút TC hoặc người bị TC chết mà nội dung TC liên quan trực tiếp đến họ nên không thể đối thoại, làm rõ cần đình chỉ giải quyết TC. Quy định mới về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết của Luật TC năm 2018 trong các trường hợp nêu trên đã phần nào khắc phục được tình trạng nêu trên nhưng công tác thi hành án có tính đặc thù, liên quan đến một số cơ quan hữu quan nhất định nên cần đưa có quy định riêng.

Ngoài ra, mặc dù Luật TC năm 2018 có đưa quy định về tạm đình chỉ giải quyết TC nhưng chưa giải quyết triệt để vì: Nếu tạm đình chỉ giải quyết TC trong THADS khi cần chờ kết quả giải quyết của các cơ quan, tổ chức hữu quan nào hoặc kết quả giải quyết của các vụ việc khác có liên quan nào.

Giải pháp: Đối với các quy định mới về giải quyết TC cần đưa vào Luật THADS như: Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết TC, Tổng cục THADS sẽ đề xuất đưa vào kế hoạch sửa đổi, bổ sung Luật THADS. Trong thời gian chưa sửa Luật THADS, để có căn cứ pháp lý áp dụng đặc thù trong lĩnh vực THADS, Bộ Tư pháp sẽ bổ sung vào Thông tư số 02/2016/TT­BTP ngày 01/02/2020 đang được sửa đổi theo hướng quy định các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ và thời hạn ban hành các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết tố cáo trong THADS.

Đối với các quy định mới về giải quyết tố cáo mang tính hướng dẫn thi hành: Tiếp nhận, xử lý thông tin có nội dung TC; thụ lý TC, điều kiện thụ lý TC; thẩm quyền giải quyết TC đối với người đã nghỉ hưu, đã chuyển công tác hoặc giữ chức vụ cao hơn; công khai kết luận TC; các trường hợp rút TC, thời điểm rút TC, Bộ Tư pháp sẽ bổ sung vào Thông tư số 02/2016/TT­BTP ngày 01/02/2020 đang được sửa đổi. Trong thời gian chưa sửa đổi Thông tư số 02/2016/TT­BTP nêu trên, để giải quyết tố cáo theo đúng quy định pháp luật, chúng ta cần áp dụng các quy định của Luật TC năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

2. Vướng mắc áp dụng pháp luật và giải pháp hoàn thiện quy định giải quyết tố cáo về thi hành án dân sự

Bên cạnh những vướng mắc trong quy định pháp luật nêu trên, thực tiễn giải quyết TC về THADS còn phát sinh một số trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ ràng liên quan đến việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn TC, trình tự, thủ tục giải quyết TC thuộc thẩm quyền.

Về việc giải quyết đơn khi công dân rút một phần nội dung TC, Điều 34 Luật TC năm 2018 chỉ có quy định đình chỉ giải quyết TC khi người TC rút toàn bộ TC mà không có quy định đình chỉ một phần khi người TC rút một phần TC. Như vậy, pháp Luật TC nói chung và pháp Luật THADS nói riêng chưa có quy định về thủ tục, hình thức giải quyết trong trường hợp này. Bởi lẽ, trong thực tiễn có nhiều trường hợp sau khi TC, người TC tự nhận thức được nội dung TC của mình là sai sự thật, nếu tiếp tục tố cáo và làm việc với cơ quan có thẩm quyền thì chính đó là dấu hiệu của hành vi cố ý TC sai sự thật, nên đã “rút tố cáo”.

Luật TC năm 2018 mới chỉ quy định đình chỉ giải quyết TC khi người TC rút toàn bộ TC mà không quy định đình chỉ một phần hay trình tự, hình thức xử lý thế nào khi người TC rút một phần TC. Như vậy, pháp luật TC nói chung và pháp luật THADS nói riêng chưa có quy định về thủ tục, hình thức giải quyết trong trường công dân rút một phần đơn TC.

Về thẩm quyền giải quyết TC, thực tế phát sinh trường hợp TC hành vi Thủ trưởng cơ quan THADS ban hành quyết định, kết luận nhưng các quyết định, kết luận này lại do Phó Thủ trưởng ký thay. Theo quy định pháp luật về THADS, xét về thẩm quyền ban hành thì hành vi ban hành quyết định, kết luận là của Thủ trưởng nên thẩm quyền giải quyết là người đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp nhưng xét về hành vi ký quyết định, kết luận lại là hành vi của cấp phó nên thẩm quyền giải quyết phải là người đứng đầu cơ quan quản lý cùng cấp.

Về biểu mẫu giải quyết TC trong THADS, hiện nay, Hệ thống THADS đang áp dụng biểu mẫu quy định theo Luật TC năm 2018, Nghị định số 31/2019/NĐ­CP ngày 10/04/2019 hướng dẫn thi hành Luật TC, Thông tư số 01/2016/TT­BTP ngày 01/02/2016 hướng dẫn một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS. Tuy nhiên, hệ thống biểu mẫu giải quyết TC nói chung chưa được ban hành đầy đủ. Cụ thể: Chưa có các mẫu phiếu chuyển đơn, thông báo không thụ lý giải quyết TC tiếp,… dẫn đến trình tự, thủ tục, văn bản ban hành trong công tác giải quyết TC không thống nhất.

Đồng thời, biểu mẫu giải quyết TC về THADS chưa được ban hành cần ban hành riêng phù hợp với tính đặc thù của hoạt động THADS (hoạt động vừa mang tính hành chính, vừa mang tính tư pháp). Hơn nữa, thực tế Tổng cục THADS đã tiếp nhận một số đơn TC của công dân nêu các văn bản mà cơ quan THADS địa phương áp dụng trong quá trình giải quyết đơn khiếu nại, TC không được quy định trong Thông tư số 02/2016/TT­ BTP và Thông tư số 01/2016/TT­BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp.

Về mẫu Sổ trong giải quyết TC, Thông tư số 01/2016/TT­BTP mới chỉ quy định mẫu sổ theo dõi sổ thụ lý giải quyết tố cáo trong THADS thuộc thẩm quyền nhưng chưa quy định mẫu sổ theo dõi đơn TC không thuộc thẩm quyền vì ngoài thụ lý đơn và giải quyết TC thi hành án thuộc thẩm quyền thì các cơ quan THADS còn phải tiếp nhận và giải quyết các đơn TC không thuộc thẩm quyền, đồng thời để theo dõi, tổng hợp số liệu báo cáo theo quy định.

Giải pháp: Liên quan đến các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn mà pháp luật chưa quy định, tác giả xin đưa ra quan điểm cá nhân để giải quyết tình huống cụ thể như sau:

Về hình thức giải quyết TC trong trường hợp công dân rút TC khi cơ quan THADS chưa xem xét, ban hành quyết định thụ lý tố cáo, chúng ta cần giải quyết bằng hình thức văn bản trả lời về việc công dân đã rút TC nên nội dung TC không còn, cơ quan THADS không xem xét, giải quyết để họ biết.

Về việc xử lý đơn khi công dân rút một phần nội dung TC, trong thời gian chưa có hướng dẫn, lập biên bản ghi nhận rút một phần nội dung TC và ban hành Quyết định đình chỉ một phần nội dung TC theo quy định tại Điều 17 Thông tư số 02/2016/TT­BTP.

Về biểu mẫu giải quyết TC trong THADS, chúng ta áp dụng biểu mẫu giải quyết TC theo quy định hướng dẫn tại Nghị định số 31/2019/NĐ­CP hướng dẫn thi hành Luật TC năm 2018. Trường hợp, đối với các biểu mẫu chưa có hướng dẫn như Thông báo không thụ lý TC thì chúng ta có thể vận dụng biểu mẫu giải quyết khiếu nại.

Về mẫu sổ theo dõi TC không thuộc thẩm quyền, theo quy định tại Thông tư số 01/2016/TT­BTP có quy định các cơ quan THADS có thể lập các Sổ cần thiết để phục vụ công tác quản lý, điều hành của mình. Theo đó, đối với việc theo dõi TC không thuộc thẩm quyền cũng nên lập thành một sổ riêng với một số cột mục đơn giản: Họ tên, địa chỉ người TC, người bị TC, nội dung TC, kết quả xử lý đơn,…/.

CHÚ THÍCH

  1. Tiến sỹ, Nghiên cứu viên chính, Viện Hàn lâm khoa học Xã hội Việt Nam.
  2. Đại úy, Thạc sỹ, GVC, Khoa Luật, Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I.
  3. Theo số liệu tổng hợp đơn thư tố cáo hàng năm của Hệ thống THADS: Năm 2016 có 293 việc tố cáo, trong đó, có 187 việc tố cáo hành vi của chấp hành viên, 106 việc tố cáo hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS; Năm 2017 có 321 việc tố cáo (tăng 28 việc), trong đó, có 197 việc tố cáo hành vi của Chấp hành viên, 124 việc tố cáo hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS; Năm 2018 có 345 việc TC (tăng 24 việc), trong đó, có 210 việc tố cáo hành vi của chấp hành viên, 135 việc TC hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS; Năm 2019 có 435 việc TC (tăng 90 việc), trong đó, có 268 việc tố cáo hành vi của chấp hành viên, 167 việc TC hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS.
  4. Thụ lý TC; 2. Xác minh nội dung TC; 3. Kết luận nội dung TC; 4. Xử lý kết luận nội dung TC của người giải quyết TC.
  5. 1. Tiếp nhận, xử lý thông tin TC; 2. Xác minh nội dung TC; 3. Kết luận nội dung TC; 4. Xử lý TC của người giải quyết TC; 5. Công khai kết luận nội dung TC, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị TC.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Tổng cục THADS (2016), Báo cáo công tác năm 2016 và phương hướng năm 2017, Hà Nội.
  2. Tổng cục THADS (2017), Báo cáo công tác năm 2017 và phương hướng năm 2018, Hà Nội.
  3. Tổng cục THADS (2018), Báo cáo công tác năm 2018 và phương hướng năm 2019, Hà Nội.
  4. Tổng cục THADS (2019), Báo cáo công tác năm 2019 và phương hướng năm  2020, Hà Nội.
Chia sẻ bài viết:
  • Share on Facebook

Bài viết liên quan

Hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam - Thực tiễn và một số giải pháp
Hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam – Thực tiễn và một số giải pháp
Bình luận các sai sót trong quá trình kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thi hành bản án, quyết định kinh doanh thương mại
Bình luận các sai sót trong quá trình kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thi hành bản án, quyết định kinh doanh thương mại
Một số tranh chấp phổ biến liên quan đến tình trạng pháp lý của tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất từ thực tiễn giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao
Một số tranh chấp phổ biến liên quan đến tình trạng pháp lý của tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất từ thực tiễn giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao
Hoàn thiện quy định pháp luật về tài sản công đưa ra đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản công ở Việt Nam
Hoàn thiện quy định pháp luật về tài sản công đưa ra đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản công ở Việt Nam
Hoàn thiện chế định đình chỉ thi hành án dân sự theo Pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam
Hoàn thiện chế định đình chỉ thi hành án dân sự theo Pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam
Xác định các căn cứ pháp lý để tính toán lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác một số loại tài sản
Xác định các căn cứ pháp lý để tính toán lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác một số loại tài sản

Chuyên mục: Dân sự/ Thi hành án dân sự Từ khóa: Giải quyết tố cáo

Previous Post: « Ngành nghề đầu tư kinh doanh – Tính thống nhất giữa Luật Đầu tư năm 2020 và Luật Doanh nghiệp năm 2020
Next Post: Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về hình phạt trục xuất »

Reader Interactions

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Primary Sidebar

Tìm kiếm nhanh tại đây:

Tài liệu học Luật

  • Trắc nghiệm Luật | Có đáp án
  • Nhận định Luật | Có đáp án
  • Bài tập tình huống | Đang cập nhật
  • Đề cương ôn tập | Có đáp án
  • Đề Thi Luật | Cập nhật đến 2021
  • Giáo trình Luật PDF | MIỄN PHÍ
  • Sách Luật PDF chuyên khảo | MIỄN PHÍ
  • Sách Luật PDF chuyên khảo | TRẢ PHÍ
  • Từ điển Luật học Online| Tra cứu ngay

Tổng Mục lục Tạp chí ngành Luật

  • Tạp chí Khoa học pháp lý
  • Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
  • Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
  • Tạp chí Kiểm sát
  • Tạp chí nghề Luật

Chuyên mục bài viết:

  • An sinh xã hội
  • Cạnh tranh
  • Chứng khoán
  • Cơ hội nghề nghiệp
  • Dân sự
    • Luật Dân sự Việt Nam
    • Tố tụng dân sự
    • Thi hành án dân sự
    • Hợp đồng dân sự thông dụng
    • Pháp luật về Nhà ở
    • Giao dịch dân sự về nhà ở
    • Thừa kế
  • Doanh nghiệp
    • Chủ thể kinh doanh và phá sản
  • Đất đai
  • Giáo dục
  • Hành chính
    • Luật Hành chính Việt Nam
    • Luật Tố tụng hành chính
    • Tố cáo
  • Hiến pháp
    • Hiến pháp Việt Nam
    • Hiến pháp nước ngoài
    • Giám sát Hiến pháp
  • Hình sự
    • Luật Hình sự – Phần chung
    • Luật Hình sự – Phần các tội phạm
    • Luật Hình sự quốc tế
    • Luật Tố tụng hình sự
    • Thi hành án hình sự
    • Tội phạm học
    • Chứng minh trong tố tụng hình sự
  • Hôn nhân gia đình
    • Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam
    • Luật Hôn nhân gia đình chuyên sâu
  • Lao động
  • Luật Thuế
  • Môi trường
  • Ngân hàng
  • Quốc tế
    • Chuyển giao công nghệ quốc tế
    • Công pháp quốc tế
    • Luật Đầu tư quốc tế
    • Luật Hình sự quốc tế
    • Thương mại quốc tế
    • Tư pháp quốc tế
    • Tranh chấp Biển Đông
  • Tài chính
    • Ngân sách nhà nước
  • Thương mại
    • Luật Thương mại Việt Nam
    • Thương mại quốc tế
    • Pháp luật Kinh doanh Bất động sản
    • Pháp luật về Kinh doanh bảo hiểm
    • Nhượng quyền thương mại
  • Sở hữu trí tuệ
  • Kiến thức chung
    • Đường lối Cách mạng ĐCSVN
    • Học thuyết kinh tế
    • Kỹ năng nghiên cứu và lập luận
    • Lý luận chung Nhà nước – Pháp luật
    • Lịch sử Nhà nước – Pháp luật
    • Lịch sử văn minh thế giới
    • Logic học
    • Pháp luật đại cương
    • Tư tưởng Hồ Chí Minh
    • Triết học

Quảng cáo:

Copyright © 2024 · Luật sư Online · Giới thiệu ..★.. Liên hệ ..★.. Tuyển CTV ..★.. Quy định sử dụng