• Trang chủ
  • Hiến pháp
  • Hình sự
  • Dân sự
  • Hành chính
  • Hôn nhân gia đình
  • Lao động
  • Thương mại

Luật sư Online

Tư vấn Pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, ly hôn, thừa kế, đất đai

  • Kiến thức chung
    • Học thuyết kinh tế
    • Lịch sử NN&PL
  • Cạnh tranh
  • Quốc tế
  • Thuế
  • Ngân hàng
  • Đất đai
  • Ngành Luật khác
    • Đầu tư
    • Môi trường
 Trang chủ » Bàn về quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Bàn về quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong Bộ luật Dân sự năm 2015

25/10/2021 25/10/2021 CTV. Thảo Uyên Leave a Comment

Mục lục

  • TÓM TẮT
  • 1. Những vướng mắc, bất cập khi áp dụng quy định pháp luật về “Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”
    • 1.1. Cách sử dụng từ ngữ của điều luật dễ gây nhầm lẫn, áp dụng thiếu thống nhất trong thực tiễn
    • 1.2. Mục đích “hạn chế quyền định đoạt” tài sản của người lập di chúc trong một số trường hợp chưa thực sự thể hiện tính nhân văn
  • 2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
  • CHÚ THÍCH
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bàn về quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Tác giả: Trần Thị Thu Hằng [1]

TÓM TẮT

Mặc dù quy định pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015) đã được áp dụng ổn định nhưng vẫn còn tồn tại về cách hiểu và áp dụng thiếu thống nhất, chưa thực sự thể hiện tính nhân văn của Luật. Trong bài viết này, tác giả nêu và phân tích một số vướng mắc, bất cập khi áp dụng quy định pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc, đồng thời kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015 để hiểu đúng và áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

Bàn về quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong Bộ luật Dân sự năm 2015

1. Những vướng mắc, bất cập khi áp dụng quy định pháp luật về “Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”

Quy định pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc tại Điều 644 BLDS năm 2015 đã phần nào thực hiện được sứ mệnh “hạn chế quyền định đoạt” của người lập di chúc, bảo vệ quyền của những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nói riêng và quyền của những người thừa kế khác trong việc hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ quy định này, chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số vấn đề trong nội dung điều luật dẫn đến sự thiếu thống nhất trong cách hiểu và áp dụng thực tiễn. Bên cạnh đó, quy định này trong một số trường hợp đã “hạn chế quyền định đoạt” của người lập di chúc một cách tuyệt đối và không còn tính nhân văn như mục đích ban đầu.

Xem thêm tài liệu liên quan:

  • Hướng sửa đổi quy định về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc trong Bộ luật Dân sự 2005
  • Cần xác định chính xác những điều kiện đặc thù của người thừa kế bắt buộc trong giải quyết tranh chấp về thừa kế
  • Tư cách tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác (chủ thể không có tư cách pháp nhân) theo Bộ luật Dân sự 2015
  • Bình luận án lệ 26/2018/AL: Thời hiệu yêu cầu chia di sản đối với thừa kế mở trước khi có Bộ luật Dân sự 2015
  • Cần bổ sung “quyền được chết” vào trong BLDS năm 2015
  • Quyền của người hưởng dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015
  • Mối liên hệ của quyền về lối đi qua và các chế định khác theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013
  • Pháp luật của Nhật Bản về thay đổi giới tính - Gợi mở phương hướng hài hòa với quy định của Bộ luật Dân sự 2015
  • Những điểm mới về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015
  • Một số khía cạnh pháp lý về quyền bề mặt trong quy định của Bộ luật Dân sự 2015

1.1. Cách sử dụng từ ngữ của điều luật dễ gây nhầm lẫn, áp dụng thiếu thống nhất trong thực tiễn

Điều  644  BLDS  năm  2015  quy   định: “1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; b) Con thành niên mà không có khả năng lao động; 2. Quy định tại Khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”.

Tại Khoản 1 của điều luật, cụm từ “không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó” cho thấy, điều luật đề cập đến việc người lập di chúc thể hiện ý chí trong việc định đoạt tài sản trong di chúc và Nhà nước muốn hạn chế quyền định đoạt của họ trong trường hợp họ cần phải có nghĩa vụ bắt buộc với người khác. Do đó, quy định trên chỉ mới điều chỉnh được quan hệ thừa kế có người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc trong trường hợp người lập di chúc định đoạt toàn bộ tài sản trong di chúc. Nghĩa là, khi người lập di chúc định đoạt hết tài sản trong di chúc mà những người thừa kế tại Điều 644 BLDS năm 2015 có đủ điều kiện thì họ sẽ được hưởng đủ hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật, còn lại chia theo tỷ lệ cho những người thừa kế trong di chúc.

Ví dụ 1: Ông M mất năm 2016. Gia đình ông M có mẹ già, vợ và 4 người con. Anh N con trai lớn của ông bị tai nạn lao động chết vào năm 2014 (lúc 30 tuổi) có vợ và 2 con gái, hai con trai ông M là K và C đã kết hôn ở riêng, V là con gái út, bị bệnh tâm thần. Tài sản của ông M có căn nhà trị giá 5.000.000.000 đồng và một khoản tiền gửi tiết kiệm là 400.000.000 đồng. Trước khi chết, ông M có lập di chúc để lại cho vợ căn nhà và cho con gái út được hưởng khoản tiền tiết kiệm gửi ngân hàng.

Nếu di sản của ông M được chia thừa kế theo pháp luật thì mỗi suất thừa kế là: 5.400.000.000 : 6 = 900.000.000 đồng và hai phần ba một suất là: 900.000.000 đồng x 2/3 = 600.000.000 đồng. Như vậy, mẹ và con gái út của ông M là người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc bởi vì mẹ của ông M không được ông cho hưởng di sản thừa kế và con gái út của ông được hưởng ít hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật (Khoản 1 Điều 644 BLDS năm 2015). Do đó, họ phải được hưởng đủ hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật, tức là mẹ ông M được hưởng 600.000.000 đồng và con gái út của ông M sẽ được hưởng thêm 200.000.000 đồng được lấy từ phần di sản của vợ ông M được hưởng theo di chúc. Vậy số di sản vợ ông M được hưởng là: 5.000.000.000  đồng  –  (600.000.000  đồng  + 200.000.000 đồng) = 4.200.000.000 đồng.

Thế nhưng, thực tiễn áp dụng quy định này còn có sự nhầm lẫn dẫn đến áp dụng thiếu thống nhất ở trường hợp người thừa kế không được người lập di chúc cho hưởng di sản và hưởng thừa kế theo pháp luật ít hơn hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật. Đó là trường hợp người lập di chúc chỉ định đoạt một phần tài sản trong di chúc. Người thừa kế tại Điều 644 BLDS năm 2015 không được người lập di chúc cho hưởng di sản trong di chúc, được hưởng thừa kế theo pháp luật nhưng lại ít hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật. Vậy trường hợp này, họ là người “không được người lập di chúc cho hưởng di sản” hay “chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba một suất theo pháp luật”? Bởi điều luật dùng cụm từ “chỉ cho hưởng ít hơn hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật” nên đó chỉ là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc cho người thừa kế hưởng di sản; còn ở đây, người thừa kế được hưởng thừa kế theo pháp luật “ít hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật” lại là sự thể hiện ý chí của Nhà nước. Cho nên, một số quan điểm cho rằng người thừa kế tại Điều 644 BLDS năm 2015 được hưởng thừa kế với tư cách là người “không được người lập di chúc cho hưởng di sản”. Theo đó, người này vừa được hưởng hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật vừa được hưởng phần di sản thừa kế theo pháp luật khi tài sản còn lại được chia theo pháp luật sau khi đã chia cho người thừa kế theo di chúc.

Ví dụ 2: Ông An và bà Bính kết hôn năm 1970 sinh được 3 con là chị C (1971), anh D (1973) và chị E (1975). Năm 1995, chị C kết hôn với anh K sinh được cháu T (1996) và cháu M (1999). Năm 2012, chị C chết vì bị bệnh hiểm nghèo. Năm 2015, ông An chết để lại di chúc cho T 1/2 tài sản của ông. Biết rằng: Tài sản của ông An và bà Bính là 480.000.000 đồng.

Theo tình huống trên, di sản của ông An trong khối tài sản chung với bà Bính là: 480.000.000 đồng : 2 = 240.000.000 đồng.

Theo di chúc, ông An để lại cho cháu T 1/2 tài sản, tức là 240.000.000 đồng : 2 = 120.000.000 đồng.

Nếu di sản của ông An được chia thừa kế theo pháp luật thì mỗi suất thừa kế là: 240.000.000 đồng : 4 = 60.000.000 đồng và hai phần ba của một suất là: 60.000.000 đồng x 2/3 = 40.000.000 đồng.

Theo câu chữ của điều luật thì bà Bính thuộc trường hợp “không được người lập di chúc cho hưởng di sản” – tức là thể hiện ý chí của ông An không cho bà hưởng di sản trong di chúc. Còn việc bà Bính được hưởng thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất của ông An là sự thể hiện ý chí của Nhà nước. Vậy bà Bính là người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc được hưởng hai phần ba của một suất thừa kế theo pháp luật là 40.000.000 đồng.

Di sản của ông An còn lại là: 240.000.000 đồng – (120.000.000 đồng + 40.000.000 đồng) = 80.000.000 đồng. Phần di sản này chia thừa kế cho những người thừa kế theo pháp luật của ông An, tức là 80.000.000 đồng : 4 (bà Bính, D, E, T và M – thừa kế thế vị C) = 20.000.000 đồng. Như vậy, bà Bính vừa được hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc vừa được hưởng thừa kế theo pháp luật. Đáng nói hơn, ở trường hợp này, người thừa kế theo di chúc không bị ảnh hưởng về tài sản mà người bị giảm sút về tài sản lại là những người thừa kế theo pháp luật. Điều này không thể hiện được bản chất tên của điều luật “người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc” cũng như mục đích “hạn chế quyền định đoạt” tài sản của người lập di chúc.

Hiện nay, mặc dù chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nhưng trong hoạt động tư vấn pháp luật và hoạt động xét xử vẫn áp dụng quy định pháp luật này với tinh thần là chỉ khi nào người thừa kế tại Điều 644 BLDS năm 2015 ở một trong hai hoàn cảnh: không được người lập di chúc cho hưởng thừa kế hoặc thực tế được hưởng ít hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật thì sẽ được hưởng đủ hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật. Còn các trường hợp khác, nếu thực tế đã được hưởng bằng hoặc nhiều hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật thì không được chia thừa kế với tư cách là đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc. Ví dụ, khi họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản nhưng lại được hưởng thừa kế theo pháp luật nhiều hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật hoặc được hưởng thừa kế theo di chúc ít hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật nhưng lại được hưởng thừa kế theo pháp luật nhiều hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật. Điều này cho thấy chưa có sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nội dung điều luật.

1.2. Mục đích “hạn chế quyền định đoạt” tài sản của người lập di chúc trong một số trường hợp chưa thực sự thể hiện tính nhân văn

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 644 BLDS năm 2015 thì: Người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc phải không thuộc trường hợp là “người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015”. Một trong những trường hợp người thừa kế không được quyền hưởng di sản đó là: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;… Tức là, khi người thừa kế có hành vi giết người để lại di sản, gây thương tích cho họ hoặc có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản; xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản sẽ bị tước quyền thừa kế nếu hành vi đó chứa đựng lỗi cố ý và người thừa kế bị kết án bởi bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án2. Như vậy, chỉ khi nào người thừa kế thực hiện các hành vi trên với lỗi cố ý và bị Tòa án kết án thì họ sẽ không được hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc ngay cả khi họ có đủ điều kiện thừa kế tại Khoản 1 của điều 644 BLDS năm 2015. Thế nên, trong thực tiễn cuộc sống đã có những người thừa kế cố ý thực hiện các hành vi như xúc phạm danh dự, nhân phẩm thậm chí ngược đãi, bạo hành tinh thần hoặc gây thương tích đối với người để lại di sản, nhưng chưa bị kết án bởi bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì họ vẫn là người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc nếu đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

Ví dụ 3: Vợ chồng ông Long và bà Hoa kết hôn năm 1980, không có con. Do cuộc sống có nhiều mâu thuẫn nên ông Long thường xuyên xúc phạm, đay nghiến, bạo hành tinh thần đối với bà Hoa. Năm 1995, ông Long đòi bán nhà rồi lấy toàn bộ số tiền mang đến sống chung như vợ chồng với cô M, trong khi ông Long và bà Hoa chưa ly hôn. Sau đó, bà Hoa được anh ruột cho một mảnh đất để xây nhà, đồng thời cho con gái là Y đến ở cùng bà Hoa. Tháng 5/2008, bà Hoa qua đời, để lại di chúc cho cháu ruột là Y căn nhà của bà trị giá 900.000.000 đồng. Sau khi bà Hoa qua đời, ông Long đến đòi chị Y chia di sản thừa kế của bà Hoa.

Ở tình huống trên, giữa ông Long và bà Hoa vẫn tồn tại mối quan hệ hôn nhân hợp pháp nên ông Long là người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc của bà Hoa, được hưởng hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật, tức là: Nếu di sản của bà Hoa được chia thừa kế theo pháp luật thì mỗi suất thừa kế sẽ là: 900.000.000 đồng : 1 = 900.000.000 đồng và hai phần ba của một suất sẽ là 900.000.000 đồng x 2/3 = 600.000.000 đồng. Chị Y chỉ được hưởng 300.000.000 đồng còn lại. Trong vụ án này, nếu như có xác minh được một nửa tài sản của bà Hoa trong số tài sản ông Long mang hết đi sau khi bán nhà thì phần di sản này cũng chia thừa kế theo pháp luật cho ông Long.

Như vậy, thực tế ông Long đã có những hành vi xúc phạm, hành hạ về tinh thần đối với bà Hoa, nhưng vì chưa bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật nên ông Long cũng không phải là “người không được quyền hưởng di sản” mà ngược lại còn được hưởng phần lớn di sản của bà Hoa. Điều này cho thấy, việc “hạn chế quyền định đoạt” tài sản của người lập di chúc trong quy định pháp luật này đi ngược với ý chí, quyền lợi của người để lại di sản và người thừa kế theo di chúc. Tương tự, có trường hợp người thừa kế cố ý xúc phạm, bạo hành, gây thương tích đối với người để lại di sản thừa kế, nhưng vì chưa bị “kết án bởi bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án” nên họ vẫn được hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc khối di sản khá lớn so với tổng di sản của người để lại di sản thừa kế, trong khi người để lại di sản thừa kế hoàn toàn không mong muốn.

Ví dụ 4: Vợ chồng ông Hải và bà Thu kết hôn năm 1992 nhưng không có con nên làm thủ tục nhận anh Hậu (3 tuổi) làm con nuôi vào năm 1998. Năm 2009, ông Hải bị tai nạn giao thông chết đột ngột. Từ đó, anh Hậu tự ý bỏ học, chơi bời lêu lổng rồi nghiện ma túy, luôn đòi tiền bà Thu để ăn chơi, hút chích. Có lần xin tiền không được, anh Hậu đã mắng nhiếc, hành hạ bà Thu về thể chất và tinh thần… nhưng chưa bị xử lý theo pháp luật. Năm 2012, bà Thu chết, để lại di chúc cho anh ruột của bà toàn bộ tài sản.

Trong trường hợp này, khi bà Thu chết, anh Hậu chưa thành niên (17 tuổi), tuy anh Hậu có hành vi cố ý xúc phạm, bạo hành đối với bà Thu nhưng chưa bị kết án bởi bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Trong di chúc bà Thu không nhắc đến anh Hậu, chứng tỏ bà không muốn anh Hậu được hưởng thừa kế, nhất là khi anh Hậu có hành vi, thái độ tệ bạc với bà. Nhưng theo quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015 anh Hậu lại được hưởng hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật, đồng thời là hai phần ba tổng số di sản của bà. Hơn nữa, trước đó anh Hậu đã được hưởng thừa kế một nửa di sản của ông Hải để lại. Tổng cộng anh Hậu được hưởng thừa kế một khối tài sản lớn của ông Hải và bà Thu. Theo chúng tôi, quy định pháp luật hiện hành một mặt đã thể hiện được tính nhân văn, nhân đạo nhưng mặt khác lại phủ nhận tính nhân văn vì quá coi nhẹ quyền định đoạt tối cao của người để lại di sản thừa kế và trong một số trường hợp không phù hợp với đạo đức xã hội.

Ở một trường hợp khác, khi vợ chồng đồng thuận ly hôn, một trong hai bên viết di chúc để lại tài sản cho người thừa kế khác (không phải vợ hoặc chồng của mình) và chết trong khi chưa có quyết định công nhận ly hôn của Tòa án thì vợ (chồng) của họ vẫn được hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc này.

Ví dụ 5: Anh Thuấn và chị Bắc kết hôn 3 năm nhưng không có con, giữa hai người nảy sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Anh chị thuận tình ký đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chị Bắc bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Trong khi Tòa án đang giải quyết ly hôn thì anh Thuấn bị bệnh hiểm nghèo nên viết di chúc để lại toàn bộ tài sản của mình cho người cháu ruột đang trực tiếp chăm sóc anh tại bệnh viện. Anh Thuấn chết khi Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu giải quyết ly hôn.

Việc anh Thuấn để lại di chúc cho người cháu ruột toàn bộ tài sản là hợp pháp và phù hợp với đạo đức xã hội. Tuy nhiên, do anh Thuấn chết khi Tòa án mới thụ lý đơn ly hôn nên giữa anh và chị Bắc vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 644 BLDS năm 2015, chị Bắc được hưởng hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật cũng là hai phần ba tổng di sản của anh Thuấn. Thực tế cho thấy, chị Bắc không ở bên cạnh động viên, chăm sóc, giúp đỡ lúc anh Thuấn lâm bệnh nhưng lại được hưởng phần lớn (hai phần ba) tổng số tài sản của anh. Trong khi đó, cháu ruột anh Thuấn là người trực tiếp chăm sóc một người bệnh hiểm nghèo là công việc khó khăn, mất nhiều công sức, đặc biệt là nguồn động viên tinh thần của người bệnh lại được hưởng phần di sản nhỏ hơn. Vậy quy định này có thực sự thể hiện tính nhân văn?

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Thứ nhất, nhà làm luật cần thay thế từ “chỉ cho” bằng từ “chỉ được” tại Khoản 1 Điều 644 BLDS năm 2015 để điều chỉnh bao quát được tất cả các trường hợp, cụ thể: “1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ được hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó…”, tức là người thừa kế tại Điều 644 BLDS năm 2015 được hưởng thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật mà ít hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật thì được hưởng đủ hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật. Bởi vậy, theo tác giả, ở ví dụ 2, bà Bính được chia thừa kế với tư cách là người “chỉ được hưởng ít hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật”. Cụ thể:

Theo di chúc, ông An để lại cho cháu T 1/2 tài sản, tức là 240.000.000 đồng : 2 = 120.000.000 đồng. Phần di sản còn lại ông An không định đoạt trong di chúc sẽ chia thừa kế theo pháp luật (điểm a, Khoản 2 Điều 650 BLDS năm 2015): 120.000.000 đồng : 4 (bà Bính, D, E, T và M – thừa kế thế vị C) = 30.000.000 đồng.

Ở trên đã xác định được hai phần ba một suất thừa kế là 40.000.000 đồng mà thực tế bà Bính mới được hưởng 30.000.000 đồng. Vậy, bà Bính sẽ được hưởng thêm 10.000.000 đồng lấy từ di sản thừa kế theo di chúc của T. Cách chia này vừa đạt được mục đích “hạn chế quyền định đoạt” của người lập di chúc vừa đảm bảo được quyền lợi của người thừa kế theo pháp luật.

Thứ hai, cần bổ sung thêm đối tượng không được hưởng kỷ phần thừa kế bắt buộc tại Khoản 2 Điều 644 BLDS năm 2015 và thay thế từ “có” bằng từ “được” để đồng nhất với tên gọi của Điều 621 BLDS năm 2015 về “người không được quyền hưởng di sản”. Cụ thể: “2. Quy định tại Khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc ngược đãi, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản thừa kế; người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”.

Các đối tượng bổ sung vào Khoản 2 Điều 644 BLDS năm 2015 không trùng lặp với “người không được quyền hưởng di sản thừa kế” quy định tại Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015, bởi vì, trong thừa kế theo pháp luật, người để lại di sản thừa kế không có chủ đích về việc định đoạt tài sản của mình, người thừa kế của họ là những người có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng được hưởng thừa kế một cách hiển nhiên. Cho nên, pháp luật quy định chỉ khi nào họ thực hiện các “hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm” của người để lại di sản và bị Tòa án kết án thì mới không được quyền hưởng di sản thừa kế.

Còn khi người để lại di sản lập di chúc là họ đã thể hiện quan điểm rõ ràng trong việc định đoạt tài sản sau khi chết, việc xuất hiện người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc nằm ngoài ý chí của họ, thậm chí họ không muốn những người này hưởng thừa kế bằng cách không để tên trong di chúc hoặc truất quyền thừa kế trong di chúc. Việc chia thừa kế cho người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người thừa kế theo di chúc nên cần thiết phải quy định điều kiện của người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc phải cao hơn, chặt chẽ hơn mới đảm bảo sự công bằng và thể hiện sâu sắc tính nhân văn của quy định này. Chỉ cần có chứng cứ người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc có các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc ngược đãi, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản thừa kế là không được hưởng thừa kế. Như ở ví dụ 3, chị Y chỉ cần thu thập chứng cứ ông Long xúc phạm, hành hạ tinh thần bà Hoa khi lấy hết tài sản đi ngoại tình… thì ông Long không được hưởng thừa kế của bà Hoa nữa. Hoặc ở ví dụ 4, anh ruột bà Thu có chứng cứ về việc anh Hậu thường xuyên có hành vi xâm phạm sức khỏe, hành hạ, ngược đãi mẹ nuôi thì anh ta cũng không được hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc của bà Thu.

Thứ ba, cần thiết phải quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc chỉ được hưởng tối đa một phần ba di sản của người để lại di sản thừa kế, vì các lý do sau:

Một là, người để lại di sản có quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản nên quyền định đoạt của họ cần được tôn trọng, họ đã thể hiện ý chí trong di chúc chứng tỏ họ mong muốn để lại di sản cho người thừa kế có tên trong di chúc nên đa số các trường hợp những người thừa kế theo di chúc được hưởng phần nhiều hơn so với người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc, bởi những người này được hưởng thừa kế một cách thụ động, hầu hết đều ngoài mong muốn của người lập di chúc. Việc quy định người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc chỉ được hưởng tối đa một phần ba di sản của người để lại di sản thừa kế thể hiện sự tôn trọng quyền định đoạt tối cao của người lập di chúc mà vẫn đảm bảo việc “hạn chế quyền định đoạt” của họ.

Hai là, phần di sản người thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc được hưởng gọi là “kỷ phần thừa kế bắt buộc” với ý nghĩa đây là phần “di sản kỷ niệm” của người chết cho “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng” hoặc “con thành niên mà không có khả năng lao động”, là những người có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng mà khi sống họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, thương yêu và chăm sóc. Chính vì vậy, pháp luật quy định những người này “được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật”, nghĩa là họ sẽ được hưởng di sản thừa kế ít hơn người thừa kế theo pháp luật. Còn ở đây, người lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế trong di chúc mà người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc lại được hưởng phần lớn tài sản của họ thì rõ ràng là vô lý. Cho nên, quy định người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc chỉ được hưởng tối đa một phần ba di sản của người để lại di sản thừa kế là hợp lý và phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Ba là, ví dụ: Ông A kết hôn với bà B sinh được duy nhất một người con là chị C. Năm 2009, chị C kết hôn với anh T, sau đó anh T chuyển đến sống tại nhà bố mẹ vợ để chị C tiện chăm sóc mẹ lúc ốm đau. Năm 2010, Bà B chết để lại di chúc cho chị C hưởng toàn bộ tài sản của bà là 180.000.000 đồng.

Theo Khoản 1 Điều 644 BLDS năm 2015, ông A được hưởng thừa kế hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật, nghĩa là nếu di sản của bà B được chia thừa kế theo pháp luật thì một suất thừa kế là: 180.000.000 đồng : 2 = 90.000.000 đồng và hai phần ba của một suất sẽ là 90.000.000 đồng x 2/3 = 60.000.000 đồng. Như vậy, ông A được hưởng 60.000.000 đồng tương đương với một phần ba (1/3) di sản của bà B.

Giả sử ông A bà B có hai người con (đều thành niên) thì ông A chỉ được hưởng: 180.000.000 đồng : 3 = 60.000.000 đồng x 2/3 = 40.000.000 đồng.

Giả sử ông A bà B có ba người con (đều thành niên) thì ông A chỉ được hưởng: 180.000.000 đồng : 4 = 45.000.000 đồng x 2/3 = 30.00.00 đồng…

Như vậy, số nhân suất được chia thừa kế càng tăng thì phần di sản mà người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc được hưởng càng giảm. Cho nên, mức tối đa mà người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc được hưởng nên quy định là một phần ba tổng số di sản của người chết. Quy định như vậy sẽ cân bằng được việc “hạn chế quyền định đoạt” của người lập di chúc và thể hiện tính nhân văn sâu sắc của pháp luật Việt Nam.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung Điều 644 BLDS năm 2015 theo hướng sau:

“Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1/ Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, nhưng không quá một phần ba di sản của người lập di chúc, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ được hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a/ Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b/ Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2/ Quy định tại Khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc ngược đãi, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản thừa kế; người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”./.

CHÚ THÍCH

  1. Thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế ­ Kỹ Thuật Công nghiệp.
  2. PGS.TS Nguyễn Văn Cừ ­ PGS.TS Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học BLDS năm 2015, Nxb. Công an nhân dân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. PGS.TS. Phùng Trung Tập (2016), Luật dân sự Việt Nam – Bình giải và áp dụng Luật thừa kế, Nxb. Hà Nội.
  2. PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ ­ PGS.TS Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học BLDS năm 2015, Nxb. Công an nhân dân.
  3. Nguyễn Quang Lộc, https://tapchitoaan. vn/bai­viet/phap­luat/mot­so­van­de­khuc­ mac­ve­phap­luat­thua­ke, truy cập ngày 22/10/2020.
Chia sẻ bài viết:
  • Share on Facebook

Bài viết liên quan

Cần xác định chính xác những điều kiện đặc thù của người thừa kế bắt buộc trong giải quyết tranh chấp về thừa kế
Cần xác định chính xác những điều kiện đặc thù của người thừa kế bắt buộc trong giải quyết tranh chấp về thừa kế
Pháp luật của Nhật Bản về thay đổi giới tính - Gợi mở phương hướng hài hòa với quy định của Bộ luật Dân sự 2015
Pháp luật của Nhật Bản về thay đổi giới tính – Gợi mở phương hướng hài hòa với quy định của Bộ luật Dân sự 2015
Quyền của người hưởng dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015
Quyền của người hưởng dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015
Áp dụng Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại trong quan hệ hợp đồng
Áp dụng Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại trong quan hệ hợp đồng
Tuyển tập nhận định đúng sai (bán trắc nghiệm) môn Luật Dân sự năm 2015 có đáp án tham khảo.
[CÓ ĐÁP ÁN] Nhận định đúng sai môn Luật Dân sự năm 2015
Một số khía cạnh pháp lý về quyền bề mặt trong quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015)
Một số khía cạnh pháp lý về quyền bề mặt trong quy định của Bộ luật Dân sự 2015

Chuyên mục: Dân sự/ Luật Dân sự Việt Nam/ Thừa kế Từ khóa: Bộ luật Dân sự 2015/ Di chúc/ Người thừa kế/ Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Previous Post: « Bàn về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự theo Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ
Next Post: Quyền tình dục và bảo vệ quyền tình dục trong quan hệ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam »

Reader Interactions

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Primary Sidebar

Tìm kiếm nhanh tại đây:

Tài liệu học Luật

  • Trắc nghiệm Luật | Có đáp án
  • Nhận định Luật | Có đáp án
  • Bài tập tình huống | Đang cập nhật
  • Đề cương ôn tập | Có đáp án
  • Đề Thi Luật | Cập nhật đến 2021
  • Giáo trình Luật PDF | MIỄN PHÍ
  • Sách Luật PDF chuyên khảo | MIỄN PHÍ
  • Sách Luật PDF chuyên khảo | TRẢ PHÍ
  • Từ điển Luật học Online| Tra cứu ngay

Tổng Mục lục Tạp chí ngành Luật

  • Tạp chí Khoa học pháp lý
  • Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
  • Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
  • Tạp chí Kiểm sát
  • Tạp chí nghề Luật

Chuyên mục bài viết:

  • An sinh xã hội
  • Cạnh tranh
  • Chứng khoán
  • Cơ hội nghề nghiệp
  • Dân sự
    • Luật Dân sự Việt Nam
    • Tố tụng dân sự
    • Thi hành án dân sự
    • Hợp đồng dân sự thông dụng
    • Pháp luật về Nhà ở
    • Giao dịch dân sự về nhà ở
    • Thừa kế
  • Doanh nghiệp
    • Chủ thể kinh doanh và phá sản
  • Đất đai
  • Giáo dục
  • Hành chính
    • Luật Hành chính Việt Nam
    • Luật Tố tụng hành chính
    • Tố cáo
  • Hiến pháp
    • Hiến pháp Việt Nam
    • Hiến pháp nước ngoài
    • Giám sát Hiến pháp
  • Hình sự
    • Luật Hình sự – Phần chung
    • Luật Hình sự – Phần các tội phạm
    • Luật Hình sự quốc tế
    • Luật Tố tụng hình sự
    • Thi hành án hình sự
    • Tội phạm học
    • Chứng minh trong tố tụng hình sự
  • Hôn nhân gia đình
    • Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam
    • Luật Hôn nhân gia đình chuyên sâu
  • Lao động
  • Luật Thuế
  • Môi trường
  • Ngân hàng
  • Quốc tế
    • Chuyển giao công nghệ quốc tế
    • Công pháp quốc tế
    • Luật Đầu tư quốc tế
    • Luật Hình sự quốc tế
    • Thương mại quốc tế
    • Tư pháp quốc tế
    • Tranh chấp Biển Đông
  • Tài chính
    • Ngân sách nhà nước
  • Thương mại
    • Luật Thương mại Việt Nam
    • Thương mại quốc tế
    • Pháp luật Kinh doanh Bất động sản
    • Pháp luật về Kinh doanh bảo hiểm
    • Nhượng quyền thương mại
  • Sở hữu trí tuệ
  • Kiến thức chung
    • Đường lối Cách mạng ĐCSVN
    • Học thuyết kinh tế
    • Kỹ năng nghiên cứu và lập luận
    • Lý luận chung Nhà nước – Pháp luật
    • Lịch sử Nhà nước – Pháp luật
    • Lịch sử văn minh thế giới
    • Logic học
    • Pháp luật đại cương
    • Tư tưởng Hồ Chí Minh
    • Triết học

Quảng cáo:

Copyright © 2024 · Luật sư Online · Giới thiệu ..★.. Liên hệ ..★.. Tuyển CTV ..★.. Quy định sử dụng