Mục lục
Kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan theo Luật Doanh nghiệp năm 2020
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh [1]
TÓM TẮT
Giao dịch giữa công ty với người có liên quan là một loại giao dịch có chủ thể đặc biệt, một bên là công ty và một bên là những cá nhân, tổ chức được xác định là người có liên quan. Người có liên quan là người được trao quyền quản lý hoặc người có số vốn góp chi phối đến quyết định của doanh nghiệp (DN) hoặc những tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp với họ có thể lợi dụng việc giao kết hợp đồng với công ty để chiếm đoạt lợi ích của công ty và các thành viên, cổ đông trong công ty. Vì vậy, pháp luật quy định về kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan để vừa hợp lý, hiệu quả mà không hạn chế quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng của DN, vừa đảm bảo quyền lợi của các bên, ngăn chặn được hành vi chiếm đoạt tài sản của công ty của những người có thẩm quyền quyết định giao dịch hoặc chi phối đến quyết định giao dịch. Các đạo luật về DN của Việt Nam từ trước đến nay luôn quy định về thủ tục kiểm soát loại giao dịch này từ việc nhận diện giao dịch giữa công ty với người có liên quan cần kiểm soát, trình tự, thủ tục kiểm soát giao dịch và hậu quả pháp lý khi giao dịch không tuân theo trình tự, thủ tục kiểm soát. Bài viết dưới đây phân tích quy định và những điểm mới của Luật doanh nghiệp (LDN) năm 2020 về kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan.

1. Nhận diện giao dịch giữa công ty với người có liên quan cần kiểm soát
Trong xã hội, khi nền sản xuất hàng hóa càng phát triển thì nhu cầu về vốn và phân tán rủi ro là động cơ thúc đẩy các nhà đầu tư liên kết với nhau dưới hình thức công ty để tiến hành các hoạt động kinh doanh. Đối với công ty đối nhân (công ty hợp danh), dựa trên đặc điểm các thành viên chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với rủi ro trong hoạt động của công ty nên quyền lợi của công ty và của bên thứ ba luôn được bảo đảm. Luật pháp không cần thiết phải can thiệp vào việc kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan trong công ty đối nhân. Đối với công ty đối vốn (công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và công ty cổ phần), do công ty thuộc về nhiều chủ sở hữu và mỗi chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn góp vào công ty nên một số người được trao quyền quản lý và những người có số vốn góp chi phối đến quyết định của DN hoặc những tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp với họ có thể lợi dụng việc giao kết hợp đồng với công ty để chiếm đoạt lợi ích của công ty và các thành viên, cổ đông trong công ty.
Giao dịch giữa công ty với người có liên quan là những giao dịch mà công ty xác lập với chủ thể đặc biệt – chủ thể này có khả năng trực tiếp hoặc gián tiếp chi phối đến việc xác lập giao dịch và nội dung của giao dịch, từ đó tối đa hóa lợi ích của mình mà gây thiệt hại cho công ty và các cổ đông. Người có liên quan là cá nhân hoặc tổ chức có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với công ty trên cơ sở quan hệ góp vốn, quan hệ quản lý nội bộ hoặc có quan hệ với người quản lý, người góp vốn và được trao quyền quyết định hoặc có khả năng chi phối tới việc xác lập giao dịch. Giao dịch giữa công ty với người có liên quan là giao dịch được xác lập giữa công ty với người có liên quan của công ty – là bên được trao quyền hoặc có khả năng chi phối đến việc xác lập giao dịch. Vì vậy, cần phải xác định chính xác được những đối tượng là người có liên quan cần kiểm soát khi DN ký kết hợp đồng đối với những đối tượng này. Cụ thể là việc chấp thuận xác lập giao dịch phải tuân theo trình tự, thủ tục tại cơ quan quản lý của DN theo quy định của Điều lệ và LDN năm 2020.
Điểm được sửa đổi trong quy định pháp luật về giao dịch giữa công ty với người có liên quan cần kiểm soát là phần giải thích từ ngữ khái niệm người quản lý DN. Người quản lý DN theo Khoản 24 Điều 4 của LDN năm 2020 được sửa đổi như sau: “Người quản lý DN là người quản lý DN tư nhân và người quản lý công ty, bao gồm chủ DN tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty”. Quy định cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty là quy định mới được sửa đổi trong LDN năm 2020 so với trước đây là quy định “cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch theo quy định tại Điều lệ công ty”. Như vậy, chỉ cần cá nhân đó giữ chức danh quản lý DN trong Điều lệ công ty là được coi là người quản lý DN chứ không nhất thiết phải là người được ủy quyền ký kết hợp đồng.
Từ quy định sửa đổi này sẽ dẫn đến việc xác định diện những người quản lý trong công ty TNHH, công ty cổ phần có điểm khác với LDN năm 2014. Quy định được sửa đổi này trong LDN năm 2020 phù hợp với thực tiễn thi hành hơn, đặc biệt trong bối cảnh để xác định giao dịch giữa công ty với những đối tượng (chủ thể) cần kiểm soát. Mặc dù, chủ thể này có thể không được ủy quyền ký kết hợp đồng nhưng vẫn có khả năng tác động đến giao dịch khi ở cương vị của người quản lý công ty.
Tìm hiểu cụ thể quy định của LDN năm 2020 về giao dịch giữa công ty với người có liên quan cần kiểm soát trong các loại hình công ty như sau:
Thứ nhất, giao dịch giữa công ty với người có liên quan cần kiểm soát trong công ty cổ phần.
Quy định giao dịch công ty với những đối tượng cần phải kiểm soát trong công ty cổ phần theo LDN năm 2014 được kế thừa trong LDN năm 2020. Việc xác lập giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau được coi là phải đưa vào diện kiểm soát giao dịch trong công ty cổ phần2:
(a) Cổ đông, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ;
(b) Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người có liên quan của họ;
(c) DN mà thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty phải kê khai theo quy định tại khoản 2 Điều 164 của Luật này.
Quy định về người có liên quan trong công ty cổ phần cần thực hiện thủ tục kiểm soát còn bất cập, chưa được chỉnh sửa liên quan đến xác định “người có liên quan” theo điểm a, b Điều 167 LDN năm 2020. Trong các đạo luật về DN trước đây như LDN năm 2005, LDN năm 2014 và hiện nay là LDN năm 2020 đều có sự nhầm lẫn này mà chưa được chỉnh sửa. LDN đã nhầm lẫn khi tiếp cận người có liên quan của cá nhân khác với phần giải thích từ ngữ là người liên quan của DN theo Khoản 23 Điều 4 LDN năm 2020. Điểm a và b Khoản 1 Điều 167 nêu trên đáng lẽ phải chỉnh sửa là người có quan hệ gia đình theo Khoản 22 Điều 4 hoặc hẹp hơn là nhóm người theo điểm đ Khoản 23 Điều 4 (Vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, con đẻ, con nuôi, con rể, con dâu, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người quản lý công ty, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên, thành viên và cổ đông sở hữu phần vốn góp hay cổ phần chi phối) của những người này thì mới có nghĩa là người có liên quan với cá nhân đó. Chính cách tiếp cận này khiến cho có sự không tương thích về quy định trong văn bản pháp luật DN.
Thứ hai, giao dịch giữa công ty với người có liên quan cần kiểm soát trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.
So với quy định trong LDN năm 2014, các giao dịch giữa công ty với những đối tượng cần kiểm soát không có sự thay đổi, bổ sung. Việc xác lập giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau được coi là phải đưa vào diện kiểm soát giao dịch trong công ty TNHH hai thành viên trở lên3:
(a) Thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty;
(b) Người có liên quan của người quy định tại điểm a khoản này;
(c) Người quản lý công ty mẹ, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ;
(d) Người có liên quan của người quy định tại điểm c khoản này.
Tương tự như trong quy định về công ty cổ phần, cách tiếp cận về người có liên quan trong giao dịch với công ty TNHH hai thành viên trở lên còn nhầm lẫn khi quy định “người có liên quan” với cá nhân và không tương thích với phần giải thích từ ngữ “người có liên quan” theo Khoản 23 Điều 4 LDN năm 2020.
Thứ ba, giao dịch giữa công ty với người có liên quan cần kiểm soát trong công ty TNHH một thành viên.
Kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan đối với công ty TNHH một thành viên chỉ đặt ra trong trường hợp do một tổ chức làm chủ sở hữu bởi vì tài sản của tổ chức khi đó được giao lại cho một số người quản lý gọi là người đại diện theo ủy quyền nếu không kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến bị chiếm đoạt. Chủ sở hữu công ty là một thực thể pháp lý vô hình (tổ chức) không thể trực tiếp quản lý hay điều hành công ty nên ủy quyền cho một số người thay mặt để quản lý công ty. Trong bối cảnh như vậy, pháp luật phải đặt ra các quy định nhằm kiểm soát những người được trao quyền quản lý này có thể tiến hành giao dịch có xung đột lợi ích, gây thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu. So với LDN năm 2014 thì quy định về các giao dịch của công ty với người có liên quan cần kiểm soát trong LDN năm 2020 vẫn được giữ nguyên. Cụ thể, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác, hợp đồng, giao dịch giữa công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu với các đối tượng sau phải được thông qua tại Hội đồng thành viên hoặc được Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc và Kiểm soát viên chấp thuận4:
(a) Chủ sở hữu công ty và người có liên quan của chủ sở hữu công ty;
(b) Thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên;
(c) Người có liên quan của người quy định tại điểm b khoản này;
(d) Người quản lý của chủ sở hữu công ty, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý đó;
(đ) Người có liên quan của những người quy định tại điểm d khoản này.
So với các loại hình doanh nghiệp khác thì công ty TNHH một thành viên là tổ chức có đặc thù riêng về tổ chức, quản lý nên những đối tượng được coi là người có liên quan trong giao dịch giữa công ty với họ cần được kiểm soát cũng có khác biệt so với các loại hình DN khác như chủ sở hữu công ty, người đại diện theo ủy quyền, kiểm soát viên và người quản lý chủ sở hữu. Quy định về giao dịch giữa công ty TNHH một thành viên là tổ chức với người có liên quan cần kiểm soát đã thể hiện được ưu điểm này.
2. Về trình tự, thủ tục thông qua giao dịch
Thứ nhất, quy định pháp luật về công khai giao dịch.
Đối với công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên.
LDN năm 2020 quy định người nhân danh công ty TNHH ký kết hợp đồng, giao dịch phải thông báo với cho cơ quan quản lý DN (Hội đồng thành viên), kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan và lợi ích có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch dự định tiến hành5. Điểm mới của quy định về công khai giao dịch là chủ thể phải công khai giao dịch trong LDN năm 2020 xác định là người nhân danh công ty ký hợp đồng. Trong LDN năm 2014, chủ thể phải công khai giao dịch là người ký kết hợp đồng. Việc sửa đổi quy định này trong LDN năm 2020 nhằm xác định rõ ràng hơn chủ thể ký kết hợp đồng bởi lẽ công ty là chủ thể có tư cách pháp nhân, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty sẽ thông qua người đại diện của công ty. Tuy nhiên, khái niệm “người nhân danh công ty” lại không mang tính pháp lý hay chưa có thuật ngữ pháp lý nào xác định “người nhân danh công ty” mà phải dùng đúng thuật ngữ pháp lý là “người đại diện của công ty” theo các quy định tương ứng theo Điều 137, 138 Bộ luật dân sự năm 2015.
Đối với công ty cổ phần.
Trường hợp giao dịch được thông qua tại cơ quan quản lý là Hội đồng quản trị, người đại diện công ty ký hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó và gửi kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch6.
Trường hợp giao dịch được thông qua tại cơ quan quản lý là Đại hội đồng cổ đông thì trước hết người đại diện công ty ký kết hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho Hội đồng quản trị và Kiểm soát viên về đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó và gửi kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch. Sau đó, Hội đồng quản trị sẽ trình dự thảo hợp đồng, giao dịch hoặc giải trình về nội dung chủ yếu của hợp đồng, giao dịch tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản7.
Thứ hai, quy định pháp luật về điều kiện thông qua giao dịch tại cơ quan quản lý DN.
Để xác định các giao dịch này được chấp thuận hay không thì cơ quan quản lý DN phải biểu quyết để quyết định. Bởi lẽ cơ quan quản lý DN là tập hợp của các thành viên, cổ đông (hoặc đại diện cho cổ đông), là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong DN. Cơ quan quản lý DN sẽ quyết định ký kết giao dịch này khi nó phù hợp với hoạt động của DN và không có yếu tố tư lợi của người có liên quan.
LDN năm 2020 kế thừa quy định của LDN năm 2014 về thủ tục thông qua giao dịch trong công ty TNHH. Cụ thể như sau:
Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác, Hội đồng thành viên phải quyết định chấp thuận hay không chấp thuận giao dịch trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của người đại diện công ty ký kết hợp đồng. Tỷ lệ biểu quyết được thông qua theo quy định tại Điều lệ. Trường hợp Điều lệ không có quy định một tỷ lệ khác thì việc thông qua giao dịch khi được các thành viên dự họp sở hữu từ 65% tổng số vốn góp của tất cả các thành viên dự họp trở lên tán thành. Thành viên Hội đồng thành viên có liên quan đến các bên trong giao dịch không được tính vào việc biểu quyết8. So với LDN năm 2014, thì LDN năm 2020 dùng thuật ngữ “thành viên Hội đồng thành viên…” chính xác hơn và phù hợp với thực tế hơn so với quy định tại Điều 67 LDN năm 2014 là “thành viên có liên quan đến các bên trong giao dịch không được tính vào việc biểu quyết” vì chỉ có thành viên Hội đồng thành viên mới có quyền biểu quyết.
Đối với công ty TNHH một thành viên là tổ chức, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác, thành viên của Hội đồng thành viên (trường hợp công ty hoạt động theo mô hình Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc) hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc (trường hợp công ty hoạt động theo mô hình Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc) và kiểm soát viên phải quyết định việc chấp thuận hợp đồng, giao dịch trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo theo nguyên tắc đa số, mỗi người có một phiếu biểu quyết, người liên quan không có quyền biểu quyết. Hợp đồng giao dịch chỉ được chấp thuận khi có đủ các điều kiện sau: (i) Các bên ký kết hợp đồng hoặc thực hiện giao dịch là những chủ thể pháp lý độc lập, có quyền, nghĩa vụ, tài sản và lợi ích riêng biệt; (ii) Giá sử dụng trong hợp đồng hoặc giao dịch là giá thị trường tại thời điểm hợp đồng được ký kết hoặc giao dịch được thực hiện; (iii) Chủ sở hữu công ty phải tuân thủ quy định của pháp luật về hợp đồng và quy định khác của pháp luật có liên quan trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê, cho thuê, hợp đồng, giao dịch khác giữa công ty và chủ sở hữu công ty9.
Đối với công ty cổ phần, quy định tại LDN năm 2020 đã có một số sửa đổi, bổ sung về thủ tục thông qua chính xác và phù hợp với thực tiễn hơn. Cụ thể như sau:
Về thẩm quyền thông qua giao dịch, có hai cơ quan có thẩm quyền thông qua giao dịch phụ thuộc vào từng loại giao dịch là Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông.
Giao dịch do Hội đồng quản trị có thẩm quyền thông qua là các giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản của DN ghi trong báo cáo tài chính gần nhất hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty Hội đồng quản trị quyết định việc chấp thuận hợp đồng, giao dịch trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của người đại diện công ty ký kết hợp đồng này, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác. Thành viên Hội đồng quản trị có liên quan đến các bên trong hợp đồng, giao dịch không có quyền biểu quyết. LDN năm 2020 dùng thuật ngữ “thành viên Hội đồng quản trị có liên quan đến các bên trong hợp đồng, giao dịch không có quyền biểu quyết” mà không dùng thuật ngữ “thành viên” nói chung nhằm đảm bảo tính chính xác và phù hợp với thực tiễn hơn.
Giao dịch do Đại hội đồng cổ đông có thẩm quyền thông qua gồm hai loại sau10:
Hợp đồng, giao dịch khác ngoài hợp đồng giao dịch thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị;
Hợp đồng, giao dịch vay, cho vay, bán tài sản có giá trị lớn hơn 10% tổng giá trị tài sản của DN ghi trong báo cáo tài chính gần nhất giữa công ty và cổ đông sở hữu từ 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên hoặc người có liên quan của cổ đông đó. Đây là quy định mới được bổ sung trong LDN năm 2020 nhằm kiểm soát tốt hơn đối với giao dịch vay, cho vay, bán tài sản của công ty. Loại giao dịch này cần có cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất là Đại hội đồng cổ đông thông qua để tất cả các cổ đông đều có quyền quyết định việc chấp thuận hay không chấp thuận giao dịch này (trừ cổ đông có lợi ích liên quan đến các bên trong hợp đồng, giao dịch). Sau khi được Hội đồng quản trị trình dự thảo hợp đồng, giao dịch hoặc giải trình về nội dung chủ yếu của hợp đồng, giao dịch tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, các cổ đông có quyền biểu quyết và giao dịch được chấp thuận khi được số cổ đông đại diện từ 65% tổng số phiếu biểu quyết trở lên của tất cả cổ đông dự họp tán thành. Trường hợp thông qua nghị quyết dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì nghị quyết được thông qua nếu được số cổ đông sở hữu trên 50% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết tán thành, tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định. Cổ đông có lợi ích liên quan đến các bên trong hợp đồng, giao dịch không có quyền biểu quyết. Quy định mới được bổ sung liên quan đến tỷ lệ biểu quyết bằng hình thức lấy ý kiến bằng văn bản trong LDN năm 2020 rõ ràng và đảm bảo việc áp dụng, thi hành trên thực tế hơn so với LDN năm 2014 đang quy định không tương thích liên quan đến tỷ lệ thông qua khi lấy ý kiến bằng văn bản cũng là 65% tổng số phiếu biểu quyết tán thành.
Thứ ba, quy định pháp luật về hậu quả pháp lý trong trường hợp giao dịch không tuân theo trình tự, thủ tục thông qua giao dịch.
Các giao dịch giữa công ty với người có liên quan không tuân thủ trình tự, thủ tục thông qua giao dịch theo quy định tại Điều lệ công ty và LDN năm 2020 thì giao dịch đó bị vô hiệu theo quyết định của tòa án11. Việc tuyên bố giao dịch vô hiệu thuộc thẩm quyền của Tòa án trên cơ sở đơn khởi kiện của cổ đông hoặc công ty. Nội dung quy định này trong LDN năm 2020 thể hiện nhiều điểm mới được sửa đổi so với quy định tại LDN năm 2014. Cụ thể như sau:
Điểm mới thứ nhất trong quy định tại Khoản 3 Điều 67, Khoản 4 Điều 86, Khoản 5 Điều 167 LDN năm 2020 đều chỉ ra việc xác định giao dịch này bị vô hiệu là không đương nhiên mà phải dựa trên bản án của Tòa án. Quy định này chính xác và phù hợp hơn so với LDN năm 2014. Một giao dịch không đương nhiên bị vô hiệu mà chỉ bị vô hiệu theo quyết định của cơ quan tài phán khi một trong các bên có yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, không chỉ Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định giao dịch bị vô hiệu mà có thể trọng tài, cụ thể là Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp cũng có quyền ra phán quyết giao dịch, hợp đồng đó có bị vô hiệu hay không nếu tranh chấp phát sinh thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài.
Điểm mới thứ hai trong các quy định này là giao dịch chỉ cần không tuân theo thủ tục giao kết theo quy định tại Điều lệ công ty và LDN năm 2020 thì sẽ bị vô hiệu mà không kèm theo điều kiện là gây thiệt hại cho công ty như quy định trong LDN năm 201412. Quy định mới được sửa đổi này phù hợp với quy định pháp luật hiện hành về căn cứ xác định một giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp giao dịch không tuân theo thủ tục thông qua được quy định trong Điều lệ và LDN là vi phạm điều cấm của luật bởi lẽ pháp luật đã quy định chủ thể phải thực hiện thủ tục nhất định nhưng chủ thể đó không thực hiện dẫn đến giao dịch bị vô hiệu. Cụ thể Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.” Việc bỏ điều kiện gây thiệt hại cho công ty phù hợp với thực tiễn thi hành do việc xác định thiệt hại và chứng cứ để chứng minh thiệt hại là điều khó khăn cho người khởi kiện đối với loại giao dịch này.
Việc xử lý giao dịch vô hiệu theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành. Người ký kết giao dịch, hợp đồng và người có liên quan của các bên trong giao dịch, hợp đồng phải liên đới chịu trách nhiệm pháp lý. Cụ thể, những người vi phạm phải hoàn trả cho công ty vật chất hoặc tài sản của công ty là đối tượng của giao dịch nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu cho công ty. Ngoài việc hoàn trả cho công ty giá trị vật chất hoặc tài sản là đối tượng của giao dịch thì họ phải bồi thường các thiệt hại thực tế phát sinh từ hành vi vi phạm. Các thiệt hại phát sinh cho DN chính là những lợi ích vật chất đã bị người có liên quan tước đoạt và trong trường hợp này, người có liên quan phải hoàn trả cho công ty những lợi ích thu được từ việc thực hiện giao dịch và bồi thường các thiệt hại thực tế đã phát sinh (nếu có)./.
CHÚ THÍCH
- Tiến sỹ, Giảng viên Khoa Đào tạo Luật sư, Học viện Tư pháp.
- Điều 167 LDN năm 2020.
- Điều 67 LDN năm 2020.
- Khoản 1 Điều 86 LDN năm 2020.
- Khoản 2 Điều 67, Khoản 2 Điều 86 LDN năm 2020.
- Khoản 2 Điều 167 LDN năm 2020.
- Khoản 4 Điều 167 LDN năm 2020.
- Khoản 2 Điều 67, Khoản 3 Điều 59 LDN năm 2020.
- Khoản 4 Điều 86, Khoản 4 Điều 77 LDN năm 2020.
- Khoản 4 Điều 167 LDN năm 2020.
- Khoản 3 Điều 67, Khoản 5 Điều 86, Khoản 4 Điều 167 LDN năm 2020.
- Khoản 3 Điều 67, Khoản 4 Điều 86, Khoản 4 Điều 162 LDN năm 2014.






Trả lời