Mục lục
Thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương và nhu cầu bồi dưỡng bằng phương pháp trực tuyến [1]
Tác giả: Trương Thế Côn [2]
TÓM TẮT
Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, đề án, quy định về việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), công nghệ số vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cũng như triển khai đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Tuy nhiên, trên thực tế việc ứng dụng CNTT, công nghệ số vào bồi dưỡng cán bộ và việc bồi dưỡng trực tuyến cho cán bộ tư pháp địa phương vẫn chưa được thực hiện bài bản, khoa học. Bài viết này phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương, hoạt động bồi dưỡng cho cán bộ tư pháp địa phương hiện nay để làm rõ được nhu cầu và sự cần thiết phải bồi dưỡng cho cán bộ tư pháp địa phương bằng phương pháp trực tuyến nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước ta trong những năm tới.
![Thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương và nhu cầu bồi dưỡng bằng phương pháp trực tuyến [1]](https://authoritating.com/20240304143945/https://iluatsu.com/wp-content/uploads/2021/10/thuc-trang-doi-ngu-can-bo-tu-phap-dia-phuong-va-nhu-cau-boi-duong-750x429-2.jpg)
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các chức danh tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tư pháp được xác định là một trong những giải pháp quan trọng, là khâu đột phá chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước nên nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Bộ Tư pháp về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nhất là việc ứng dụng CNTT, đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến nhằm xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã được ban hành.
1. Thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương hiện nay
Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Tư pháp giai đoạn 2011 – 2020 được phê duyệt theo Quyết định số 358/QĐ-BTP ngày 06/03/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã xác định nguồn nhân lực ngành Tư pháp gồm nguồn nhân lực tại: các đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước và các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp; hệ thống cơ quan thi hành án dân sự; cơ quan Tư pháp địa phương; các tổ chức pháp chế Bộ, ngành, địa phương; các tổ chức bổ trợ tư pháp. Như vậy, cán bộ tư pháp địa phương là một trong các nhóm nhân lực trong cơ cấu nguồn nhân lực của ngành Tư pháp đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc triển khai các nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp và của chính quyền tại cơ sở.
Tính đến hết tháng 10/2020, số lượng cán bộ tư pháp địa phương như sau:
– Tổng số công chức, viên chức công tác tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và cán bộ Tư pháp – Hộ tịch là 25.435 người, trong đó:
+ Số công chức, viên chức đang làm việc tại các Sở Tư pháp là 4.271, trong đó, về trình độ chuyên môn luật: có 8 người trình độ tiến sỹ luật (chiếm tỷ lệ 0,2%), có 576 người trình độ thạc sỹ luật (chiếm tỷ lệ 13,5%), có 3.040 người có trình độ cử nhân, cao đẳng (chiếm tỷ lệ 71,2%), có 89 người có trình độ trung cấp luật (chiếm tỷ lệ 2,1%); về trình độ chuyên môn khác: có 58 người trình độ thạc sỹ (chiếm tỷ lệ 11,2%), có 458 người trình độ đại học, cao đẳng (chiếm tỷ lệ 22,8%), có 55 người trình độ trung cấp (chiếm tỷ lệ 4,1%), có 15 người chưa đào tạo.
+ Số công chức, viên chức đang công tác tại các Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là 2.815 người, trong đó, về trình độ chuyên môn luật: có 1 người trình độ tiến sỹ, có 227 người trình độ thạc sỹ 9 (chiếm tỷ lệ 8,1%), có 2.276 người trình độ đại học, cao đẳng (chiếm tỷ lệ 80,9%), có 23 người trình độ trung cấp luật (chiếm tỷ lệ 0,8%); về trình độ chuyên môn khác: có 48 người trình độ thạc sỹ trở lên (chiếm tỷ lệ 1,7%), có 244 người trình độ đại học, cao đẳng (chiếm tỷ lệ 8,7%), có 7 người trình độ trung cấp (chiếm tỷ lệ 0,2%), chưa đào tạo 1 người.
+ Số công chức Tư pháp – Hộ tịch trên phạm vi cả nước là 18.349 người, trong đó, số xã có 02 công chức Tư pháp – Hộ tịch trở lên là 6.414/10.897 xã, phường, thị trấn (chiếm tỷ lệ 58,86%), về trình độ chuyên môn luật: có 377 người trình độ thạc sỹ luật (chiếm tỷ lệ 2,05%); có 13.630 người trình độ cao đẳng và cử nhân luật (chiếm tỷ lệ 74,28%); 2759 người có trình độ trung cấp luật (chiếm tỷ lệ 15,04%); về trình độ chuyên môn khác: có 81 người có trình độ thạc sỹ trở lên (chiếm tỷ lệ 0,44%), có 1.011 người trình độ Đại học, cao đẳng, có 514 người trình độ trung cấp (chiếm tỷ lệ 2,8%); có 30 người chưa đào tạo (chiếm tỷ lệ 0,16%)3.
– Số lượng cán bộ làm công tác pháp chế: hiện nay có 4.625 người, trong đó có 1.398 người chuyên trách tại các tổ chức pháp chế của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và 2.353 người làm công tác pháp chế nhưng chỉ có 452 người được bố trí làm công tác pháp chế chuyên trách các địa phương (hiện nay có 71 Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh). Ngoài ra, có 1.472 người làm công tác pháp chế, trong đó có 564 người làm công tác pháp chế chuyên trách tại các doanh nghiệp nhà nước ở Trung ương4.
– Số lượng cán bộ công tác trong hệ thống cơ quan thi hành án dân sự: hệ thống thi hành án dân sự được phân bổ 9.088 biên chế và đã thực hiện được 8.839/9.088 biên chế, trong đó có 4.099 chấp hành viên, 790 thẩm tra viên và 1.636 thư ký thi hành án5.
Những năm vừa qua, Bộ Tư pháp đã tập trung xây dựng, ban hành nhiều quy định, đề án, kế hoạch liên quan đến công tác quản lý cán bộ6, công tác chuyên môn nghiệp vụ, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chuyên môn ở các cấp, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ. Vì thế, đội ngũ cán bộ tư pháp hiện nay về cơ bản đáp ứng được các tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, các quy định về văn bằng chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nhìn chung, cán bộ làm công tác tư pháp trong những năm gần đây có xu thế ngày càng giảm, nhiều biến động, thay đổi liên tục do thực hiện chủ trương tinh giảm biên chế và sự luân chuyển cán bộ, việc cơ cấu bố trí sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước. Vì thế, trước bối cảnh đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương liên tục có sự biến động, khối lượng và tính chất công việc ngày càng phức tạp nên cần phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao hơn nữa năng lực, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp để đáp ứng được nhu cầu, yêu cầu đòi hỏi giải quyết công việc của xã hội, của người dân nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
2. Hoạt động bồi dưỡng cho cán bộ tư pháp địa phương trong những năm vừa qua
Những năm vừa qua, Bộ, ngành Tư pháp rất quan tâm, đầu tư vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Bộ, ngành Tư pháp. Năm 2020, Bộ Tư pháp đã cử 521 lượt công chức, viên chức của Bộ và 1.968 lượt công chức, viên chức thi hành án dân sự đi đào tạo, bồi dưỡng. Tính trong 5 năm 2016 – 2020, Bộ Tư pháp đã tổ chức 164 lớp cho 15.271 lượt công chức, viên chức thuộc Bộ và công chức cơ quan thi hành án dân sự các cấp (chưa kể chọn, cử công chức, viên chức đi học ở các cơ sở đào tạo khác)7. Đồng thời, trong giai đoạn 2016- 2020, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc Bộ Tư pháp đã phối hợp với các sở, ban, ngành địa phương tổ chức được 56 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho 9.771 công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã và cấp huyện của các địa phương trên toàn quốc. Ngoài ra, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc Bộ còn tổ chức thành công nhiều lớp bồi dưỡng theo nhu cầu xã hội8.
Đối với Học viện Tư pháp, từ năm 2016 đến tháng 9 năm 2020, đã tổ chức được 350 lớp bồi dưỡng cho 25.444 lượt người học, trong đó có 108 lớp bồi dưỡng được giao theo Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức hàng năm cho 7.490 lượt người học và 242 lớp bồi dưỡng theo nhu cầu xã hội cho 17.954 lượt người học; 11 lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nâng cao về pháp luật quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế cho công chức, viên chức làm công tác liên quan đến pháp luật, pháp chế của các bộ, ngành và địa phương; 41 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho 4.291 học viên9.
Theo thống kê và kết quả bồi dưỡng trên cho thấy mặc dù Bộ Tư pháp đã rất quan tâm đến hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương nhưng số lượng cán bộ tư pháp địa phương được bồi dưỡng trong những năm vừa qua chưa được nhiều. Nhiều cán bộ, công chức thi hành án dân sự địa phương chưa được bồi dưỡng theo định kỳ bắt buộc, việc đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ còn hạn chế; số lượng công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng tối thiểu 5 ngày trong một năm chỉ được khoảng 15% so với yêu cầu quy định tại Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ. Trên thực tế, chỉ những công chức giữ chức vụ lãnh đạo quản lý cấp Cục, Chi cục (cơ bản là cấp trưởng đơn vị) mới được bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ hàng năm10. Đặc biệt, số lượng cán bộ tư pháp địa phương không thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Tư pháp (cán bộ công tác tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch, cán bộ làm công tác pháp chế tại các bộ, ngành và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp) hầu như chưa được Bộ Tư pháp bồi dưỡng.
Việc triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ hội nhập kinh tế còn chưa được đầu tư thỏa đáng, chưa có bước đột phá11. Nội dung bồi dưỡng thường mang tính chất tập huấn theo từng lĩnh vực, từng chuyên đề nhỏ mà chưa tập trung vào việc bồi dưỡng kỹ năng, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức và chưa theo định hướng, chiến lược, kế hoạch phát triển dài hạn.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả bồi dưỡng như trên, trong đó có nguyên nhân do pháp luật quy định việc bồi dưỡng cho cán bộ tư pháp địa phương không thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Tư pháp như công chức, viên chức công tác tại các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch ở cấp xã… do các địa phương tự chịu trách nhiệm thực hiện; nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng của Bộ Tư pháp quá ít, không đáp ứng được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của công chức, viên chức; việc bồi dưỡng cán bộ tư pháp địa phương chủ yếu được Bộ Tư pháp thực hiện theo phương thức tập trung truyền thống mà chưa ứng dụng CNTT, chưa thực hiện bồi dưỡng theo phương thức trực tuyến… gây khó khăn cho công chức, viên chức tham gia lớp học.
Theo quy định của pháp luật Bộ Tư pháp phải chịu trách nhiệm về chuyên môn nghiệp vụ, về quản lý nhà nước, về chất lượng công tác xây dựng, thi hành pháp luật, công tác tư pháp nên ở góc độ chuyên môn, Bộ Tư pháp vẫn phải chịu trách nhiệm tổ chức các khoá bồi dưỡng nhằm hướng dẫn về chuyên môn, nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức công tác tại các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp Hộ tịch, cán bộ làm công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp. Việc các địa phương tự tổ chức, tự thực hiện các hoạt động bồi dưỡng cho cán bộ tư pháp địa phương không thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Tư pháp như hiện nay sẽ không đảm bảo sự thống nhất về quản lý nhà nước nhất là về kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ. Vì vậy, Bộ Tư pháp, ngành Tư pháp cần phải có giải pháp nhằm đẩy mạnh, nâng cao chất lượng bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương, trong đó phải tập trung vào việc ứng dụng CNTT, triển khai bồi dưỡng cho cán bộ tư pháp địa phương theo phương pháp trực tuyến.
3. Bồi dưỡng cán bộ tư pháp địa phương bằng phương pháp trực tuyến
3.1. Bồi dưỡng trực tuyến và việc bồi dưỡng cán bộ tư pháp địa phương bằng phương pháp trực tuyến trong thời gian vừa qua
Hiện nay, có nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về khái niệm, nội hàm khái niệm học trực tuyến, đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến. Tuỳ thuộc vào quan niệm, góc nhìn, thuật ngữ “học trực tuyến” được hiểu là học tập điện tử, e-learning hay học qua mạng cho phép người học có thể học ở bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào12. Nhìn chung đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến có 4 đặc tính cơ bản là: (1) Sử dụng công nghệ để cung cấp các chương trình học tập đào tạo, bồi dưỡng; (2) Phân phối chương trình học tập, đào tạo, bồi dưỡng hoặc giáo dục bằng phương tiện điện tử; (3) Việc học tập được tạo điều kiện thuận lợi bằng cách sử dụng các công cụ và nội dung kỹ thuật số liên quan đến một số hình thức tương tác, có thể bao gồm tương tác trực tuyến giữa người học và giảng viên hoặc đồng nghiệp của họ; và (4) Sử dụng CNTT và truyền thông để hỗ trợ người học cải thiện việc học tập13.
Như vậy, bồi dưỡng trực tuyến là một phương thức bồi dưỡng trong đó người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến, diễn đàn (forum), hội thảo video, chat…; các nội dung học tập được phân phát qua các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mạng internet, các website… hoặc có thể từ đĩa CD, DVD, băng video, … Bồi dưỡng trực tuyến thường gắn liền với các nền tảng công nghệ, giúp cho người học chủ động trong việc học tập, có thể học mọi lúc, mọi nơi mà không phải đến tập trung tại một địa điểm vào cùng một thời điểm để nghe giảng viên giảng bài… Học trực tuyến có hai phương thức giao tiếp là: giao tiếp đồng bộ và giao tiếp không đồng bộ. Giao tiếp đồng bộ là phương thức giao tiếp trong đó người dạy, người học phải truy cập tại cùng một thời điểm để cùng trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video, chat… Giao tiếp không đồng bộ là phương thức giao tiếp trong đó người học không nhất thiết phải truy cập tại cùng một thời điểm như tự học qua mạng internet, CD – ROM, email, diễn đàn….
Mặc dù học trực tuyến có nhiều ưu điểm nhưng trước năm 2020, các lớp bồi dưỡng cho cán bộ tư pháp địa phương chủ yếu được Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp thực hiện theo phương thức tập trung truyền thống mà chưa áp dụng phương pháp trực tuyến. Trước bối cảnh dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp, nguy hiểm trên diện rộng, ngày 05/5/2020, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1000/QĐ-BTP phê duyệt chủ trương tổ chức thí điểm đào tạo, bồi dưỡng tập trung kết hợp từ xa theo phương thức trực tuyến tại Học viện Tư pháp. Vì vậy, trong năm 2020, Học viện Tư pháp đã tổ chức được 35 lớp bồi dưỡng theo phương thức học trực tuyến kết hợp tập trung cho 2.331 lượt học viên14. Ngoài Học viện Tư pháp còn một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp như Tổng cục Thi hành án dân sự, Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật… đã triển khai một số lớp bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ tư pháp địa phương theo hình thức hội nghị trực tuyến hoặc các lớp học ảo như Học viện Tư pháp tổ chức thực hiện.
Các lớp học trực tuyến do Học viện Tư pháp và các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp tổ chức mới chỉ được thực hiện dưới hình thức lớp học ảo (virtual class) với việc ứng dụng phần mềm Microft Teams hoặc dưới hình thức hội nghị trực tuyến. Cho đến nay, Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp chưa có phần mềm đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến (LMS) và phần mềm quản lý nội dung học tập trực tuyến (LCMS) để tổ chức, quản lý các lớp bồi dưỡng trực tuyến. Điều này có nghĩa các lớp bồi dưỡng trực tuyến mới được Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp tổ chức theo phương thức giao tiếp đồng bộ nên chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tham gia lớp học, cho cơ quan quản lý cán bộ cũng như cho cơ sở đào tạo bồi dưỡng; chưa quản lý, kiểm sát người học được chặt chẽ, chưa đáp ứng được nhu cầu, yêu cầu đòi hỏi thực tế đặt ra; đồng thời chưa đúng bản chất của học trực tuyến là học mọi lúc, mọi nơi, cá nhân hoá việc học tập, chưa hướng tới việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời theo đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước…
3.2. Sự cần thiết và nhu cầu bồi dưỡng cán bộ tư pháp địa phương bằng phương pháp trực tuyến
Có thể nói, việc bồi dưỡng cán bộ bằng phương pháp trực tuyến sẽ ngày càng gia tăng, phát triển mạnh mẽ và sẽ là xu thế tất yếu trong những năm tới là vì:
Thứ nhất, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh áp dụng CNTT vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cũng như đào tạo, bồi dưỡng bằng phương thức trực tuyến như chuyển từ học trên lớp sang các hình thức học tập đa dạng, đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học15; khuyến khích các mô hình giáo dục, đào tạo mới dựa trên các nền tảng số16.
Đồng thời, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, chính sách để đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến như: số hóa tài liệu học tập, sách giáo khoa gắn với đổi mới nội dung, phương thức dạy, học, khảo thí; tạo điều kiện cho mọi lứa tuổi được truy cập, học tập, đào tạo; phát triển hạ tầng và ứng dụng CNTT trong nghiên cứu, triển khai, đào tạo và giảng dạy… 17; phải đẩy mạnh hình thức học từ xa, học qua mạng, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng CNTT phục vụ cho việc đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến (E-learning), tăng cường ứng dụng CNTT và truyền thông trong việc cung ứng các chương trình học tập suốt đời18; cung cấp các khóa học đại trà trực tuyến mở (MOOCS) cho tất cả người dân nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục nhờ công nghệ số; phổ cập việc thi trực tuyến; công nhận giá trị của các chứng chỉ học trực tuyến; phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa. 100% các cơ sở giáo dục triển khai công tác dạy và học từ xa, trong đó thử nghiệm chương trình đào tạo cho phép học sinh, sinh viên học trực tuyến tối thiểu 20% nội dung chương trình19.
Thứ hai, bước đầu pháp luật đã có những quy định cho phép đào tạo, bồi dưỡng nói chung và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng bằng phương pháp trực tuyến như: Khoản 2 Điều 43 Luật giáo dục số 43/2019/QH14 đã quy định hình thức thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên gồm vừa làm vừa học, học từ xa, tự học, tự học có hướng dẫn, hình thức học khác theo nhu cầu của người học; Khoản 4 Điều 43 Luật giáo dục số 43/2019/QH14 quy định phương pháp giáo dục thường xuyên phải phát huy tính chủ động của người học, coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học; sử dụng phương tiện và công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học; Điều 29 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đã quy định 03 loại hình tổ chức bồi dưỡng là: tập trung, bán tập trung và từ xa. Đặc biệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản quy định các điều kiện để được ứng dụng CNTT trong quản lý, tổ chức đào tạo trực tuyến như Thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT ngày 22/4/2016 quy định ứng dụng CNTT trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng; Thông tư số 10/2017/TT- BGDĐT ngày 28/4/2017 về việc ban hành Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học đã xác định các loại hình đào tạo từ xa như thư tín, phát thanh- truyền hình, mạng máy tính và kết hợp các phương thức này; Thông tư số 38/2020/TT- BGDĐT ngày 06/10/2020 quy định về liên kết đào tạo với nước ngoài trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ theo hình thức trực tuyến và hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.
Thứ ba, pháp luật quy định cán bộ, công chức, viên chức bắt buộc phải tham gia bồi dưỡng để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn theo đúng chức danh nghề nghiệp, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Pháp luật quy định cán bộ, công chức, viên chức nói chung và cán bộ tư pháp địa phương nói riêng phải đáp ứng các điều kiện về tiêu chuẩn, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ như phải được bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức trước khi bổ nhiệm; bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm (thời gian thực hiện tối thiểu là 01 tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết)20. Nội dung bồi dưỡng bao gồm lý luận chính trị, kiến thức quốc phòng an ninh, kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước, quản lý chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, hội nhập quốc tế, ngoại ngữ, tin học, tiếng dân tộc21; thời lượng bồi dưỡng từ một vài ngày, một tuần cho đến 8 tuần22.
Trước bối cảnh đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương liên tục có sự biến động, khối lượng và tính chất công việc ngày càng phức tạp thì đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương cần phải được đào tạo, bồi dưỡng nhất là đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến nhằm nâng cao hơn nữa năng lực, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp để đáp ứng được nhu cầu, yêu cầu, đòi hỏi giải quyết công việc người dân.
Thứ tư, việc bồi dưỡng cho cán bộ tư pháp địa phương bằng phương thức trực tuyến giúp tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí cho cán bộ, công chức, viên chức tham gia bồi dưỡng, cho cơ quan đơn vị cử cán bộ, công chức, viên chức tham gia lớp học, cho cơ sở tổ chức bồi dưỡng cũng như cho xã hội như tiết kiệm được thời gian, chi phí ăn nghỉ, đi lại, không phải đầu tư vào việc xây dựng trường lớp. Đặc biệt, trong bối cảnh nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ nói chung và cho cán bộ tư pháp nói riêng quá ít trong khi nhu cầu học tập nhiều, khối lượng, tính chất công việc có xu hướng ngày càng phức tạp hơn, nhưng biên chế lại giảm do thực hiện chủ trương tinh giảm biên chế, để đáp ứng nhu cầu học tập của đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng thì phương thức bồi dưỡng trực tuyến chắc chắn sẽ là giải pháp hữu hiệu và phải được đẩy mạnh áp dụng trong những năm tới.
Thứ năm, việc bồi dưỡng bằng phương pháp trực tuyến sẽ giúp cho cán bộ tư pháp địa phương có điều kiện thuận lợi tham gia lớp học và linh hoạt trong việc học tập, bồi dưỡng. Người học có thể chủ động lựa chọn tiến độ, thời gian, học mọi lúc, mọi nơi phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình với thời gian biểu linh hoạt do người học tự xây dựng, tự điều chỉnh… mà không bắt buộc phải theo một tiến độ, đến tập trung tại một địa điểm, với một khung thời gian cố định như phương thức học truyền thống.
Thứ sáu, bồi dưỡng bằng phương thức trực tuyến sẽ cuốn hút, kích thích, tạo hứng thú cho người học tham gia học tập. Trong phương pháp học trực tuyến, có nhiều công cụ, cách thức để kích thích, thu hút người học tích cực tham gia vào việc học tập, nghiên cứu như thông qua các ứng dụng hình ảnh, âm thanh, mầu sắc…; đồng thời, các bài giảng điện tử có thể được thiết kế dưới dạng trò chơi, biểu đồ, hình hoạ… Vì thế, bồi dưỡng trực tuyến kích thích, thu hút người học nhất là việc sử dụng các siêu liên kết với các trang web trên toàn thế giới để tra cứu, tìm hiểu thông tin đáp ứng nhu cầu, sở thích của mình.
Thứ bảy, bồi dưỡng bằng phương pháp trực tuyến sẽ giúp cho cán bộ tư pháp địa phương phát triển và nâng cao hơn kiến thức về tin học, internet. Để tham gia học tập trực tuyến, người học phải có kiến thức, kỹ năng, am hiểu về sử dụng, ứng dụng CNTT, mạng internet nên đòi hỏi người học phải nghiên cứu, tìm hiểu, học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng sử dụng, khai thác CNTT, mạng internet… Đồng thời, bồi dưỡng trực tuyến giúp cho cán bộ tư pháp địa phương có cơ hội, điều kiện học tập mà không có sự phân biệt về giới tính, vùng miền, tuổi tác như học tập trung truyền thống và đặc biệt góp phần nâng cao ý thức, thái độ tự học, tự nghiên cứu, tự tìm hiểu, tự giải quyết vấn đề, xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời.
Thứ tám, bồi dưỡng bằng phương pháp trực tuyến sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước truyền tải và cán bộ tư pháp địa phương tiếp nhận thông tin từ trên xuống dưới một cách đồng bộ, thống nhất trên toàn quốc một cách dễ dàng thông qua bài giảng điện tử, lớp học ảo…. Vì thế, các thông tin mà cán bộ tư pháp địa phương tiếp nhận đều là các thông tin gốc, chính thức, không bị sai lệch do các giảng viên khác nhau truyền đạt như phương pháp bồi dưỡng truyền thống. Đây là một trong những ưu thế, lợi thế của phương pháp bồi dưỡng trực tuyến. Vì thế, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ ngày càng phải đẩy mạnh việc bồi dưỡng cho cán bộ địa phương bằng phương pháp trực tuyến.
Thứ chín, đặc biệt kết quả khảo sát cho thấy, cán bộ tư pháp địa phương đánh giá việc bồi dưỡng nói chung và bồi dưỡng bằng phương pháp trực tuyến là cần thiết, thiết thực và mong muốn được tham gia bồi dưỡng trực tuyến. Một số kết quả khảo sát cho thấy cụ thể như sau:
Đối với câu hỏi “Cán bộ Tư pháp địa phương có cần thiết phải bắt buộc tham gia bồi dưỡng hay không” thì: cán bộ công tác tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch địa phương có 123/162 (chiếm tỷ lệ 78,80%) phiếu hỏi trả lời là cần thiết, 23/163 (chiếm tỷ lệ 14,20%) phiếu trả lời là không cần thiết; cán bộ công tác tại cơ quan thi hành án dân sự địa phương có 87/94 (chiếm tỷ lệ 96,70%) phiếu trả lời là cần thiết, có 3/94 (chiếm tỷ lệ 03,30%) phiếu trả lời là không cần thiết.
Đối với câu hỏi “Theo ông/bà phương pháp bồi dưỡng trực tuyến có cần thiết, có thiết thực cho cán bộ tư pháp địa phương hay không” thì đối với: cán bộ công tác tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch địa phương có 115/162 (chiếm tỷ lệ 71,90%) phiếu hỏi trả lời là cần thiết, thiết thực, có 20/162 (chiếm tỷ lệ 12,50%) phiếu trả lời là không cần thiết, không thiết thực; cán bộ công tác tại các cơ quan thi hành án dân sự địa phương có 70/94 (chiếm tỷ lệ 86,30%) phiếu trả lời là cần thiết, thiết thực, có 11/94 (chiếm tỷ lệ 16,40%) phiếu trả lời là không cần thiết, không thiết thực.
Đối với câu hỏi “Nếu Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp tổ chức bồi dưỡng, tập huấn theo phương thức trực tuyến thì ông/bà có tham gia hay không” thì đối với: cán bộ công tác tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch địa phương có 155/162 (chiếm tỷ lệ 96,80%) phiếu hỏi trả lời có tham gia, có 03/162 (chiếm tỷ lệ 01,90%) phiếu trả lời không tham gia; cán bộ công tác tại các cơ quan thi hành án dân sự địa phương có 67/94 (chiếm tỷ lệ 83,90%) phiếu trả lời có tham gia, chỉ có 19/94 (chiếm tỷ lệ 12,50%) phiếu trả lời không tham gia.
Về nội dung bồi dưỡng trực tuyến: khi được hỏi về các nội dung cần được bồi dưỡng trực tuyến thì 136/162 phiếu (chiếm tỷ lệ 84%) cán bộ tư pháp công tác tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp – hộ tịch chọn nội dung bồi dưỡng cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ; còn đối với cán bộ thi hành án dân sự địa phương thì 67/94 phiếu (chiếm tỷ lệ 72,8%) chọn bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng mới về pháp luật và 63/94 phiếu (chiếm tỷ lệ 68,5%) chọn bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ chuyên ngành.
Với số lượng cán bộ, công chức, viên chức ngành tư pháp vào khoảng hơn 40.620 người23 thì nhu cầu bồi dưỡng trực tuyến của đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương hiện nay cũng như những năm tới là rất lớn.
Vì vậy, có thể khẳng định việc bồi dưỡng cán bộ nói chung và cán bộ tư pháp địa phương nói riêng bằng phương thức trực tuyến sẽ là một xu thế tất yếu giúp cho cán bộ có thể học tập mọi lúc, mọi nơi, nâng cao thái độ, ý thức, trách nhiệm học tập, qua đó góp phần hình thành, xây dựng xã hội học tập, môi trường học tập suốt đời. Cho nên thời gian tới, việc bồi dưỡng cho cán bộ tư pháp địa phương bằng phương pháp trực tuyến sẽ ngày càng phát triển và gia tăng mạnh mẽ./.
CHÚ THÍCH
- Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề án khoa học cấp Bộ: “Bồi dưỡng cán bộ tư pháp địa phương bằng phương pháp trực tuyến”.
- Tiến sỹ, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp.
- Nguồn: Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Tư pháp.
- Bộ Tư pháp, Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2021 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm 2020, nhiệm kỳ 2016-2020; định hướng nhiệm kỳ 2021-2025 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2021.
- Chính phủ, Báo cáo Công tác thi hành án dân sự năm 2020 (từ ngày 01/10/2019 đến ngày 30/9/2020), Hà Nội, tháng 10 năm 2020.
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2017/TT-BTP ngày 05/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức danh, mã số ngạch, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành THADS; Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về phân cấp quản lý công chức các đơn vị hành chính thuộc Bộ; Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, biệt phái, luân chuyển công chức, viên chức của Bộ Tư pháp…
- Bộ Tư pháp, Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2021 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm 2020, nhiệm kỳ 2016-2020; định hướng nhiệm kỳ 2021-2025 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2021.
- Bộ Tư pháp, Tài liệu hội thảo “Sơ kết 05 năm thực hiện Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2025 và lấy ý kiến dự kiến Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Bộ Tư pháp năm 2021”, Hà Nội 25/11/2020, trang 8-9.
- Bộ Tư pháp, Tài liệu hội thảo “Sơ kết 05 năm thực hiện Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2025 và lấy ý kiến dự kiến Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Bộ Tư pháp năm 2021”, Hà Nội 25/11/2020, trang 24.
- Bộ Tư pháp, Tài liệu Hội thảo sơ kết 05 năm thực hiện Kế hoạch triển khai quy hoạch phát triển nhân lực ngành Tư pháp giai đoạn 2011-2020 và dự thảo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Bộ Tư pháp năm 2010, ngày 17/12/2018, Hà Nội, tr. 23.
- Bộ Tư pháp, Tài liệu Hội thảo sơ kết 05 năm thực hiện Kế hoạch triển khai quy hoạch phát triển nhân lực ngành Tư pháp giai đoạn 2011-2020 và dự thảo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Bộ Tư pháp năm 2010, ngày 17/12/2018, Hà Nội, tr. 17.
- Epignosis LLC, E-Learning: Concepts, trends, applications, January 2014 (page 5-6) at www.talentms.com [truy cập ngày 29/12/2020].
- Sangrà, A.; Vlachopoulos, D.; Cabrera, N. Building an inclusive definition of e-learning: An approach to the conceptual framework. Int. Rev.Res. Open Distrib. Learn. 2012, 13, 145-159
- Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp, Tài liệu Hội nghị triển khai công tác năm 2021, Hà Nội ngày 13/01/2021.
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương tám Khóa XI về việc đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
- Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 30/8/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng Công nghệ 4.0 (CMCN 4.0).
- Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
- Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2020”.
- Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
- Điều 15 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.
- Điều 16 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.
- Điều 17 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.
- Bộ Tư pháp, Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2021 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm 2020, nhiệm kỳ 2016-2020; định hướng nhiệm kỳ 2021-2025 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2021.






Trả lời