Mục lục
Bình luận về một số vấn đề tranh chấp trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn
Tác giả: Lê Thu Trang [1]
TÓM TẮT
Nam, nữ chung sống như vợ chồng hiện là một vấn đề tồn tại trong xã hội, đang ngày một tăng về số lượng và phức tạp về tính chất. Hiện tượng này đã xuất hiện từ khá lâu, ở mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước khác nhau, cách hiểu về vấn đề nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng cũng có những khác biệt. Trên thực tế, khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp trong trường hợp trên, về thủ tục tố tụng đã có những quan điểm khác nhau xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình hay tranh chấp dân sự? Việc xác định trên có ý nghĩa rất lớn để xác định thẩm quyền của Tòa án để giải quyết những tranh chấp này.

Bài viết đưa ra tình huống pháp lý về việc chung sống như vợ chồng trái pháp luật khi một trong hai bên đang trong mối quan hệ hôn nhân hợp pháp. Khi một bên chết đi, thì việc giải quyết về nhân thân đặc biệt là vấn đề tài sản của các bên sẽ thuộc tranh chấp hôn nhân và gia đình hay tranh chấp dân sự. Những quan điểm khác nhau sẽ được tác giả phân tích và làm rõ.
1. Tình huống pháp lý
Ông A và bà B chung sống với nhau từ năm 1982 tại huyện T, tỉnh X được hai bên gia đình đồng ý, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn; ông A và bà B có hai con chung là C (sinh năm 1984) và D (sinh năm 1985). Năm 1997, ông A bỏ nhà lên thành phố L, tỉnh X làm việc. Bà B và các con vẫn sống tại huyện T.
Năm 2000, ông A chung sống với bà E tại thành phố L, tỉnh X và nhập hộ khẩu về nhà bà E. Bà B và các con không có ý kiến gì. Ông A vẫn đi về giữa nhà bà E và nhà bà B, vẫn chung sống bình thường với cả hai bà. Ông A và bà E có 2 con chung là G (sinh năm 2000) và H (sinh tháng 01/2001).
Quá trình chung sống ông A, bà B tạo lập được khối tài sản chung là diện tích 200 m2 liền kề với diện tích đất 500 m2 bà E có trước khi chung sống với ông A tại phường K thành phố L. Cả 2 diện tích đất này được cấp chung một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2009 cho hộ gia đình bà E.
Năm 2015, ông A chết, không có di chúc. Do cần tiền để làm ăn, bà E rao bán nhà, đất nhưng vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ gia đình mà trong hộ khẩu gia đình có cả tên ông A nên bà E không thể bán được. Vì vậy, bà E khởi kiện bà B và các con của bà B và ông A là C, D ra Tòa án yêu cầu chia tài sản chung của bà và ông A.
Đối với tình huống trên các ý kiến đều thống nhất khi nhận định:
Ông A và bà B chung sống với nhau từ năm 1982, quan hệ này được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp được thừa nhận. Căn cứ điểm c1 Điều 1 Nghị quyết số 02 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ngày 23/12/2000 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì người đang có vợ hoặc có chồng là người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn2.
Tuy nhiên, việc chung sống như vợ chồng giữa ông A và bà E lại là hành vi bị cấm trong Luật HNGĐ năm 2000 và Luật HNGĐ năm 2014.
Bà E khởi kiện đối với bà B và C, D. Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 thì bà B và C, D là bị đơn trong vụ án.
Đối với tình huống nêu trên vẫn còn các ý kiến trái chiều liên quan đến việc xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là tranh chấp dân sự hay tranh chấp hôn nhân gia đình, cũng như xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, quan hệ giữa ông A và bà E được điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HNGD năm 2000), thuộc trường hợp không được Nhà nước thừa nhận là vợ chồng vì không đăng ký kết hôn, đồng thời đây cũng là trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn. Nay bà E kiện yêu cầu chia tài sản của bà E và ông A, đây là quan hệ chia tài sản chung theo quy định tại Điều 16 Luật HNGĐ năm 2014. Do đó, cần xác định tranh chấp trong tình huống nêu trên là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại Khoản 8 Điều 28 BLTTDS năm 2015 và theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi cư trú của bị đơn, tức Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh X.
Cùng có quan điểm tương đồng với quan điểm thứ nhất, có ý kiến phân tích thêm về việc chung sống như vợ chồng giữa ông A và bà E (khi đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa ông A và bà B) là vi phạm chế độ một vợ một chồng – là hành vi bị Luật HNGĐ năm 2014 cấm; khi bà E yêu cầu chia tài sản chung, mặc dù ông A đã chết nhưng việc giải quyết vẫn phải áp dụng quy định tại Điều 16 Luật HNGĐ năm 2014 để giải quyết. Yêu cầu chia tài sản chung của bà E được xác định là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 8 Điều 28 BLTTDS năm 2015.
Thêm vào đó, ý kiến này nhận định Luật HNGĐ năm 2014 đang “trống” các quy định điều chỉnh quan hệ giữa ông A và bà E, bởi Điều 14 của Luật này khi quy định về “Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” chỉ điều chỉnh các trường hợp “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn” theo quy định của Luật HNGĐ năm 2014 mà chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn, chứ không điều chỉnh mọi trường hợp không đăng ký kết hôn, và khoảng “trống” này đã được khắc phục bằng quy định tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP3: “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình”. Nay bà E yêu cầu chia tài sản chung, mặc dù ông A đã chết nhưng việc giải quyết vẫn phải áp dụng quy định tại Điều 16 Luật HNGĐ năm 2014, cụ thể:
“Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”.
Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập. Quan điểm thứ hai cho rằng, bà E và ông A là quan hệ hôn nhân không được Nhà nước bảo hộ – bà E và ông A không được nhà nước công nhận là vợ chồng. Nay ông A đã chết, bà E khởi kiện đây là tranh chấp quyền tài sản là tranh chấp dân sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 BLTTDS năm 2015, mà đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất – bất động sản. Điểm c Khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết”. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thành phố L, tỉnh X4.
2. Quan điểm và bình luận từ tình huống pháp lý
Quan điểm của tác giả đây là tranh chấp dân sự về chia tài sản chung có liên quan đến hôn nhân và gia đình. Tác giả sẽ xét trên khía cạnh khi ông A còn sống và khi ông A đã chết.
2.1. Khái quát chung về chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn
Trong xã hội hiện nay, tồn tại nhiều cách hiểu về “nam nữ chung sống như vợ chồng”. Theo cách hiểu chung nhất, nam nữ chung sống như vợ chồng là hành vi của hai bên nam nữ, tuy không phải là vợ chồng nhưng đã ăn ở với nhau và coi nhau là vợ chồng. Họ liên kết với nhau trên cơ sở tự nguyện và không đăng ký kết hôn. Xét về bản chất, đây là quan hệ vợ chồng mà quan hệ đó không được xác lập theo thủ tục và trình tự pháp lý nhất định nhưng lại đã và đang tồn tại trên thực tế. Hai bên chung sống với nhau như vợ chồng, thực sự coi nhau là vợ chồng và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, với gia đình và với xã hội. Vì vậy, trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng và hôn nhân có đăng ký kết hôn về bản chất là giống nhau.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chưa đưa ra định nghĩa như thế nào được coi là “chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn”.
Nhưng tới Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã đưa ra định nghĩa: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”5.
Xét về đặc điểm, muốn được pháp luật thừa nhận là “chung sống như vợ chồng” thì phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể, có thể hiểu là giữa nam với nam, nam với nữ hoặc nữ với nữ. Với quy định này, nhà làm luật đã “có ý” thừa nhận chung sống như vợ chồng giữa hai người khác giới tính hoặc cùng giới tính họ đã tổ chức cuộc sống chung và “coi nhau là vợ chồng”. Nội hàm này rộng hơn so với cách tiếp cận của pháp Luật hình sự đã từng giải thích như sau “Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó..”6. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chính thức pháp điển hóa khái niệm về “chung sống với nhau như vợ chồng” là một quy định khá tiến bộ tuy không phải là mới so với các nước trên thế giới. Ví dụ, Điều 515 Bộ luật dân sự Pháp thừa nhận việc chung sống giữa những người khác giới và giữa những người cùng giới tính thông qua một loại hợp đồng kết đôi dân sự (PACS). Tương tự, pháp luật Australia cũng thừa nhận thỏa thuận sống chung trong Luật của Khối Thịnh vượng chung về phân chia tài sản đối với các cá nhân chung sống như vợ chồng7.
Thứ hai, về điều kiện, hai cá nhân đã “tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”. Trên thực tế, để đánh giá hai người có coi nhau là vợ chồng hay không là điều không hề đơn giản phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện, hoàn cảnh sống và tâm lý quan điểm từng người. Chính vì vậy, pháp luật có những tiêu chí cụ thể để xem xét là chung sống như vợ chồng như:
(i) có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
(ii) việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc được người khác hay tổ chức chứng kiến;
(iii) hoặc họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình8.
Hay một cách khái quát hơn được coi là nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi:
(i) Nam nữ có điều kiện kết hôn nhưng chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
(ii) Trong thời gian chung sống như vợ chồng, hai người thực sự coi nhau là vợ chồng. Đây là điểm có thể giúp ta phân biệt với trường hợp nam nữ sống chung tạm bợ.
(iii) Khi bắt đầu chung sống, hai người muốn chung sống lâu dài và ổn định.
Đây là đặc điểm để phân biệt với khái niệm “hôn nhân thử nghiệm” hay “sống thử”. Đối với “hôn nhân thử nghiệm”, trước khi chung sống, các bên thỏa thuận sẽ “thử” chung sống với nhau như vợ chồng, “thử” thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ chồng. Nếu sau một thời gian chung sống, các bên thấy phù hợp thì sẽ lúc này sẽ tiến hành đăng ký kết hôn, còn trường hợp không thấy phù hợp với nhau nữa thì các bên sẽ “đường ai nấy đi”. Còn trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên mong muốn xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no, bình đẳng, tiến bộ.
2.2. Quan điểm về các trường hợp tranh chấp
2.2.1. Trường hợp tranh chấp khi ông A còn sống
Thứ nhất, làm rõ mối quan hệ giữa ông A- bà B và ông A- bà E.
Nhận thấy rằng, quan hệ giữa ông A và bà B là quan hệ chung sống như vợ chồng được pháp luật thừa nhận. Ông A và bà B chung sống từ thời điểm năm 1982 tức trước ngày 03/01/1987 căn cứ điểm c1 Điều 1 Nghị quyết số 02/NQ-TANDTC của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/12/2000 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì người đang có vợ hoặc có chồng là người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Tức là ông A và bà B được coi là đang có vợ, đang có chồng, quan hệ giữa ông A và bà B là quan hệ vợ chồng được pháp luật thừa nhận.
Ông A chung sống như vợ chồng với bà E sau đó nhập hộ khẩu nhập hộ khẩu về nhà bà E. Bà B và các con không có ý kiến gì. Việc nhập hộ khẩu về nhà bà E không đồng nghĩa với việc chung sống của ông A bà E là được pháp luật thừa nhận. Ngược lại, việc chung sống của ông A với bà E khi đang tồn tại hôn nhân hợp pháp với bà B là vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Cấm các hành vi sau đây:
“…c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ…”9.
Vậy, quan hệ chung sống như vợ chồng giữa ông A và bà E là chung sống như vợ chồng trái pháp luật. Quan hệ chung sống này cũng được luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh (sẽ được tác giả làm rõ hơn ở phần sau).
Thứ hai, về quan hệ tài sản giữa ông A- bà B và quan hệ tài sản giữa ông A- bà E.
Căn cứ Điều 213 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia”. Bên cạnh đó tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng một lần nữa khẳng định “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng”. Như vậy, dễ nhận thấy tài sản của ông A và bà B thuộc tài sản chung hợp nhất. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung và các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung. Khi ông A bà B được pháp luật thừa nhận quan hệ vợ chồng đồng nghĩa với việc khối tài sản chung vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Trên cơ sở phân tích trên, khi quan hệ chung sống như vợ chồng của ông A và bà E không được thừa nhận thì tài sản chung giữa ông A và bà E đơn thuần tài sản chung theo phần. Nhưng, tại thời điểm ông A và bà E chung sống với nhau thì quan hệ hôn nhân của ông A và bà B vẫn đang tồn tại, tài sản của ông A trong khối tài sản chung của ông A và bà E sẽ được coi là tài sản chung vợ chồng ông A và bà B.
Thứ ba, trường hợp ông A còn sống và bà E có yêu cầu chia tài sản chung thì đây chính là tranh chấp tài sản trong trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
Luật HNGĐ năm 2014 quy định trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng khi nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn. Theo đó, việc chung sống này sẽ không làm phát sinh quan hệ vợ chồng, tức là không phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ, chồng giữa họ với nhau. Khi có tranh chấp về tài sản chung được giải quyết theo quy định tại Điều 16 Luật HNGĐ năm 2014:
“Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
1/ Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2/ Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”. Bên cạnh đó căn cứ Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP: “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình”.
Qua trên cho thấy, pháp luật không phân biệt nam, nữ chung sống như vợ chồng trái pháp luật hay không trái pháp luật khi có yêu cầu Tòa vẫn thụ lý và giải quyết theo Luật HNGĐ năm 2014.
Kết luận: Nếu ông A còn sống dễ dàng nhận thấy đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Khoản 8 Điều 28 BLTTDS năm 2015 là phù hợp; Quan điểm thứ hai xác định là tranh chấp dân sự là không phù hợp.
2.2.2. Trường hợp tranh chấp khi ông A chết
Thứ nhất, xác định tư cách ông A trong “hộ gia đình”. Theo tình huống pháp lý thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình bà E, mà trong sổ hộ khẩu hộ gia đình bà E có ông B. Thông tư số 33/2017/TT-BTNM của Bộ Tài nguyên và Môi trường 29/09/2017, quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, đưa ra quy định mới về việc ghi tên các thành viên trong gia đình trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở.
Theo đó, căn cứ vào Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 và Khoản 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017 của Bộ TN&MT thì tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất mà những người trong hộ gia đình có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung trong hộ gia đình và có quyền sử dụng đất chung chung thì giấy chứng nhận được cấp cho hộ gia đình và những người đó được ghi tên trên giấy chứng nhận.
Như vậy, nếu nhà, đất đó là tài sản riêng của cá nhân hoặc là tài sản chung của cá nhân với vợ/chồng của mình thì giấy chứng nhận không ghi tên những người khác trong gia đình (như cha, mẹ, anh, chị, em, các con). Cha, mẹ, anh, chị, em, các con ở trong gia đình chỉ được ghi tên trên giấy chứng nhận khi họ có quyền sử dụng đất chung.
Vậy tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông B có tên trong sổ hộ khẩu tuy nhiên việc ông B và bà E chung sống với nhau như vợ chồng trái pháp luật (như đã phân tích ở phần trên) thì không phát sinh quan hệ hôn nhân. Như vậy nếu theo cách hiểu của Luật đất đai ông B không thuộc trường hợp sở hữu tài sản với các thành viên khác.
Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 102 và Điều 212 của Bộ luật dân sự năm 2015: Việc xác định tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định như sau:
(i) Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
(ii) Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Trên thực tế, đã có những mâu thuẫn và cách hiểu khác nhau về tài sản thuộc “hộ gia đình” khi thực thi pháp luật. Tuy nhiên, cần được hiểu theo ý nghĩa của Bộ luật dân sự năm 2015. Tức pháp luật dân sự hướng tới chủ sở hữu chung theo phần đối với nhiều chủ thể cùng sở hữu tài sản. Việc ông A dù không có quan hệ hôn nhân với bà E nhưng việc bà E đã không phản đối khi ông A xuất hiện trong hộ khẩu do bà là chủ hộ thì cũng được quyền suy đoán bà không phản đối với phần quyền của ông đối với tài sản là mảnh đất trên. Căn cứ theo Bộ luật dân sự năm 2015 thì ông A vẫn có tư cách đồng chủ sở hữu tài sản.
Thứ hai, khi ông A chết quan hệ nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn giữa ông A và bà E chấm dứt, sẽ không đặt ra yêu cầu không công nhận quan hệ hôn nhân, bởi giữa họ không có sự kiện pháp lý nào để làm phát sinh quan hệ (không đăng ký kết hôn). Khi một bên chết, quan hệ giữa bên chết và con chung về nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng cũng chấm dứt. Nếu một bên chết không để lại di chúc cũng không đặt ra vấn đề thừa kế đối với người đã chung sống như vợ chồng với người chết. Vì họ không thuộc trường hợp thừa kế theo Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, nếu có tranh chấp phát sinh từ quan hệ nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn sau khi một bên đã qua đời, thì tranh chấp này thuần túy là tranh chấp về tài sản, nghĩa vụ hợp đồng (nếu một bên nam (nữ) chung sống như vợ chồng đã xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với bên thứ ba hoặc với chính bên còn sống).
Thứ ba, sự kiện ông B chết làm phát sinh quan hệ thừa kế. Ông B chết không để lại di chúc, di sản thừa kế của ông sẽ được chia theo pháp luật. Căn cứ vào Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 thì những người sau sẽ được hưởng một suất thừa kế theo pháp luật bằng nhau là bà B (vợ hợp pháp của ông A), các con C, D, G, H (là con đẻ của ông A). Tuy nhiên, việc xác định di sản thừa kế của ông A rất khó khăn, rất khó xác định tài sản của ông A trong khối tài sản chung của ông A và bà E là bao nhiêu, càng khó hơn khi xác định phần quyền của bà B trong phần tài sản của ông A và bà E là bao nhiêu (vì tài sản mà ông A có được trong phần tài sản của bà E với ông A chính là tài sản chung “có được” trong thời kì hôn nhân của bà B và ông A).
Khi bà E khởi kiện chia khối tài sản chung, người trực tiếp là bị đơn liên quan là ông A nhưng ông A đã chết. Bà E kiện bà B và hai con của ông A là C, D những người này là những người đồng thừa kế theo pháp luật của ông A. Trong trường hợp này những người thừa kế của người chết tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch, trừ trường hợp những nghĩa vụ về tài sản nhưng phải do chính cá nhân chết thực hiện (Khoản 8 Điều 372 BLDS năm 2015). Theo dữ liệu tình huống thì tài sản chung của bà E và ông A thuộc sở hữu chung của các thành viên gia đình (Điều 212 BLDS năm 2015). Khi một bên nam (nữ) chết, quyền sở hữu của người đó đối với phần tài sản trong khối tài sản chung với bên còn sống chấm dứt do chuyển quyền sở hữu thông qua việc thừa kế cho những người thừa kế của người chết (Điều 238 BLDS năm 2015). Các tranh chấp về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung giữa bên còn sống và những người thừa kế của người chết là tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản thuộc Khoản 1 Điều 26 BLTTDS năm 2015; trong khi tranh chấp về nghĩa vụ hợp đồng thuộc Khoản 2 Điều 26 BLTTDS năm 2015.
Như vậy, việc bà E kiện ông A, bà B và các con của ông bà A, B là C và D ra Tòa yêu cầu chia tài sản chung được xác định đây là tranh chấp chia tài sản chung. Trong trường hợp này đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, một loại bất động sản. Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và căn cứ điểm c, Khoản 1 Điều 39 quy định: “Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết”. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thành phố L, tỉnh X./.
CHÚ THÍCH
- Thạc sỹ, Giảng viên Trường Đại học Hải Phòng.
- Căn cứ điểm c1 Điều 1 Nghị quyết số 02 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ngày 23/12/2000 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
- Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Bích Phượng- Ngọc Trâm, “Tranh chấp hôn nhân và gia đình hay dân sự? Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 24/06/2019.
- Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Mục 3.1 phần 3 Thông tư số 01/2001/TTLT/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC Hướng dẫn áp dụng các quy định tại chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999 ngày 25/9/2001.
- Kinh nghiệm quốc tế về một số vấn đề lớn được quy định trong dự thảo Luật sửa đổi bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/ View_Detail.aspx?View_Detail.aspx?ItemID=632&TabIndex=2.
- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10.
- Điểm c Khoản 1 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điều 210 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.





![[EBOOK] Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam - Bản pdf tải về miễn phí - Tái bản năm 2018 - Nguồn: Đại học Luật Hà Nội](https://web.archive.org/web/20240412152950/https://iluatsu.com/wp-content/uploads/2020/08/ebook-giao-trinh-luat-hon-nhan-va-gia-dinh-viet-nam-pdf-750x429-1.jpg)
Trả lời