Mục lục
Pháp luật về Tổ chức hòa giải thương mại theo quy định tại Nghị định số 22/2017/NĐ-CP của Chính phủ – Thực trạng và hướng hoàn thiện
Tác giả: Vũ Huy Hoàng & Ngô Thị Thu Huyền
TÓM TẮT
Nghị định số 22/2017/NĐ-CP của Chính phủ về hòa giải thương mại được ban hành ngày 24/02/2017 (NĐ số 22/2017/NĐ-CP) đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động hòa giải thương mại tại Việt Nam. Các quy định của Nghị định này đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của tổ chức hòa giải thương mại trong giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường hòa giải. Thông qua việc nghiên cứu, phân tích các quy định về tổ chức hòa giải thương mại trong NĐ số 22/2017/NĐ-CP, bài viết chỉ ra những bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành và định hướng khắc phục những bất cập đó.

1. Quy định pháp luật về tổ chức hòa giải thương mại theo Nghị định số 22/2017/NĐ- CP về hòa giải thương mại
1.1. Tổ chức được tiến hành hoạt động hòa giải thương mại
Trước khi NĐ số 22/2017/NĐ-CP ra đời, ở Việt Nam, hòa giải đã được pháp luật quy định thành một nguyên tắc và được các nhà kinh doanh ghi nhận là một phương thức giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, phạm vi sử dụng cũng như hiệu quả đạt được của phương thức này còn rất khiêm tốn. Một trong những lý do dẫn đến tình trạng này là bởi các quy định về hòa giải thương mại ngoài Tòa án chưa đầy đủ, đồng bộ và chưa được phổ biến rộng rãi; pháp luật Việt Nam còn thiếu sự nghiên cứu một cách có hệ thống để làm rõ các vấn đề lý thuyết về hòa giải, đưa ra các mô hình hòa giải có hiệu quả.
Việc ban hành NĐ số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại đã thể chế hóa Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách ngành tư pháp đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”. Các quy định của NĐ số 22/2017/NĐ-CP góp phần nâng cao hiệu quả của việc sử dụng hòa giải để giải quyết các tranh chấp thương mại, khi đã có những quy định cụ thể về hòa giải viên thương mại, trình tự thủ tục hòa giải, cũng như những quy định hết sức chi tiết về tổ chức hòa giải thương mại.
Theo quy định tại Điều 3 NĐ số 22/2017/NĐ- CP, hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thoả thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này. Hiện nay pháp luật quy định hai hình thức hòa giải là:
Hòa giải thương mại vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp do hòa giải viên thương mại vụ việc được các bên lựa chọn tiến hành theo quy định của NĐ số 22/2017/NĐ-CP và thỏa thuận của các bên.
Hòa giải thương mại quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một tổ chức hòa giải thương mại theo quy định của NĐ số 22/2017/NĐ-CP và Quy tắc hòa giải của tổ chức đó.
Như vậy, một trong hai hình thức hòa giải được pháp luật cho phép là thông qua một tổ chức hòa giải thương mại. Tuy nhiên, không phải bất cứ tổ chức nào cũng được phép thực hiện hoạt động hòa giải. Theo quy định tại Điều 18 NĐ số 22/2017/NĐ-CP, tổ chức được tiến hành hoạt động hòa giải thương mại bao gồm: Trung tâm hòa giải thương mại được thành lập và hoạt động theo quy định của Nghị định này và Trung tâm trọng tài được thành lập và hoạt động theo pháp luật về trọng tài thương mại thực hiện hoạt động hòa giải thương mại.
Việc thành lập các Trung tâm hòa giải thương mại chuyên nghiệp tại Việt Nam là điều cần thiết để đảm bảo chất lượng của hoạt động hòa giải, phù hợp với xu thế chung của các nước trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay, ngay trong khu vực Châu Á, hoạt động hòa giải thương mại đã diễn ra khá sôi động với sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của nhiều Trung tâm hòa giải như Trung tâm hòa giải Bắc Kinh (Trung Quốc), Trung tâm hòa giải Delhi (Ấn Độ), Trung tâm hòa giải Hồng Kông, Trung tâm hòa giải Indonesia, Trung tâm hòa giải Singapore, Trung tâm hòa giải Thái Lan…
Cùng với việc thành lập mới các Trung tâm hòa giải thương mại, việc pháp luật cho phép các tổ chức trọng tài thương mại cung cấp dịch vụ hòa giải là hết sức phù hợp. Về mặt quy định pháp luật, kể từ khi ra đời cách đây hơn 10 năm, Luật trọng tài thương mại (Luật TTTM) năm 2010 đã ghi nhận hòa giải là một bước trong quá trình Trọng tài giải quyết tranh chấp thương mại. Theo đó, Hội đồng trọng tài chỉ tiến hành hòa giải khi các bên thống nhất sẽ thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp, đồng thời yêu cầu Hội đồng trọng tài là đơn vị hòa giải căn cứ theo quy định tại Điều 9 và Điều 58 Luật TTTM năm 2010. Và khi các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết trong vụ tranh chấp thì Hội đồng trọng tài lập biên bản hoà giải thành có chữ ký của các bên và xác nhận của các trọng tài viên. Hội đồng trọng tài ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên, quyết định này là chung thẩm và có giá trị như phán quyết trọng tài. Luật TTTM năm 2010 quy định khá linh hoạt chứ không cứng nhắc về nguyên tắc, trình tự, thủ tục và mô hình hòa giải do trọng tài tiến hành. Ngoài ra, tiêu chuẩn trọng tài viên theo Luật TTTM năm 2010 cũng có nhiều nét tương đồng với tiêu chuẩn hòa giải viên theo NĐ số 22/2017/NĐ-CP. Về mặt thực tiễn, trong bối cảnh hoạt động hoà giải vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam thì nguồn lực và kinh nghiệm sẵn có từ các Trung tâm trọng tài sẽ giúp phương thức hoà giải thương mại tiếp cận nhanh hơn với khách hàng. Việc cho phép Trung tâm trọng tài thương mại cung cấp cả dịch vụ hòa giải cũng sẽ tận dụng, khai thác được cơ sở vật chất và đội ngũ nhân sự hiện có; mở rộng loại hình dịch vụ và tạo nguồn thu cho các Trung tâm trọng tài này mà không phát sinh thêm các vấn đề về thủ tục hành chính, cấp phép. Ví dụ như Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) cũng đã xây dựng và ban hành Quy tắc hòa giải từ năm 2007; quy tắc này áp dụng cho việc hoà giải tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới quan hệ pháp lý trong hoạt động thương mại, khi các bên quyết định tiến hành hoà giải tranh chấp thông qua VIAC. Ngoài hoạt động của các Trung tâm hòa giải,
Trung tâm trọng tài trong nước, NĐ số 22/2017/NĐ-CP cũng cho phép sự hiện diện và hoạt động với những hình thức nhất định của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam. Theo đó, tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài được thành lập và hoạt động hợp pháp tại nước ngoài, tôn trọng Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì được phép hoạt động tại Việt Nam theo quy định của NĐ số 22/2017/NĐ-CP. Tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức: Chi nhánh của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài (sau đây gọi là chi nhánh) và Văn phòng đại diện của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài (sau đây gọi là văn phòng đại diện).
1.2. Thành lập, đăng ký hoạt động tổ chức hòa giải thương mại
Về bản chất, tổ chức cung cấp dịch vụ hoà giải có nhiều nét tương đồng với một doanh nghiệp cung ứng dịch vụ; do đó, các vấn đề liên quan đến thủ tục thành lập, đăng ký hoạt động được quy định và thực hiện có nhiều nét tương đồng với pháp luật doanh nghiệp. Theo quy định tại Điều 19 NĐ số 22/2017/NĐ-CP thì Trung tâm hòa giải thương mại được thành lập theo quy định của Nghị định này, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Trung tâm hòa giải thương mại hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Trung tâm hòa giải thương mại được lập chi nhánh, văn phòng đại diện ở trong nước và nước ngoài. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm hòa giải thương mại do điều lệ của Trung tâm quy định; chủ tịch Trung tâm hòa giải thương mại là hòa giải viên thương mại.
Công dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại quy định tại Khoản 1 Điều 7 NĐ số 22/2017/NĐ-CP muốn thành lập Trung tâm hòa giải thương mại gửi 01 bộ hồ sơ đến Bộ Tư pháp. Hồ sơ bao gồm: Giấy đề nghị thành lập Trung tâm hòa giải thương mại theo mẫu do Bộ Tư pháp ban hành; danh sách sáng lập viên; giấy tờ chứng minh sáng lập viên đủ tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại quy định tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định này; dự thảo Quy tắc hòa giải của Trung tâm.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày quyết định cấp Giấy phép thành lập của Trung tâm hòa giải thương mại có hiệu lực, Trung tâm gửi hồ sơ đăng ký hoạt động đến Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Trung tâm đặt trụ sở. Hết thời hạn này, nếu Trung tâm hòa giải thương mại không đăng ký hoạt động thì Giấy phép thành lập không còn giá trị, trừ trường hợp có lý do chính đáng. Trung tâm hòa giải thương mại được hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động.
Với Trung tâm trọng tài đã được cấp Giấy phép thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật trọng tài thương mại muốn thực hiện hoạt động hòa giải thương mại thì gửi 01 bộ hồ sơ đến Bộ Tư pháp. Hồ sơ bao gồm: Giấy đề nghị bổ sung hoạt động hòa giải thương mại theo mẫu do Bộ Tư pháp ban hành và dự thảo Quy tắc hòa giải của Trung tâm. Trung tâm trọng tài thực hiện đăng ký thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Trung tâm đăng ký hoạt động.
2. Thực trạng pháp luật về tổ chức hòa giải thương mại và hướng hoàn thiện
Tính đến đầu năm 2021, đã có một số Trung tâm hòa giải thương mại được thành lập trên cả nước, trong đó Hà Nội có 8 Trung tâm hòa giải thương mại3, Thành phố Hồ Chí Minh có 4 Trung tâm hòa giải thương mại4 và Thừa Thiên Huế có 1 Trung tâm hòa giải thương mại5. Cùng với đó, một số Trung tâm trọng tài cũng đã đăng ký bổ sung hoạt động hòa giải thương mại, điển hình như Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) đã ra mắt Trung tâm hòa giải Việt Nam (VMC). Trong 4 năm qua, hòa giải thương mại bắt đầu được nhiều doanh nghiệp lựa chọn, nhiều vụ tranh chấp có giá trị lớn đã được giải quyết thông qua hòa giải. Riêng Trung tâm hòa giải Việt Nam (VMC), thuộc Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã nhận 7 đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại, với tổng trị giá tranh chấp hơn 1.000 tỷ đồng. Các vụ việc tranh chấp tập trung trong lĩnh vực xây dựng (trên 900 tỷ đồng), hàng hải và sở hữu trí tuệ.
Mặc dù đạt được những kết quả nhất định, có thể thấy pháp luật về tổ chức hòa giải thương mại tại Việt Nam vẫn còn những bất cập cần phải khắc phục:
Thứ nhất, về chủ thể được phép thành lập Trung tâm hòa giải thương mại.
Hiện nay, ngoài các Trung tâm trọng tài được phép đăng ký thêm hoạt động hòa giải thương mại, NĐ số 22/2017/NĐ-CP quy định công dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại quy định tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định này muốn thành lập Trung tâm hòa giải thương mại gửi 01 bộ hồ sơ đến Bộ Tư pháp. Theo quan điểm của tác giả, pháp luật Việt Nam nên mở rộng thêm các chủ thể được phép thành lập Trung tâm hòa giải thương mại; ghi nhận sáng lập viên của Trung tâm hoà giải có thể là một số tổ chức nhất định, như Liên đoàn luật sư Việt Nam hay các cơ sở nghiên cứu, đào tạo luật. Đây là những tổ chức có nguồn nhân lực dồi dào, chuyên môn cao trong lĩnh vực pháp luật, sẽ giúp hoạt động hoà giải thương mại ở Việt Nam được phát triển hơn. Có thể lấy ví dụ như ở Singapore, Trung tâm hòa giải Singapore (SMC) trực thuộc Học viện pháp luật Singapore, tập trung giải quyết các tranh chấp thương mại. Kể từ khi ra mắt vào ngày 16/8/1997, SMC đã hòa giải hơn 4.900 vụ việc trị giá hơn 10 tỷ đô la. Khoảng 70% các vụ việc được giải quyết thành công, và 90% trong số đó được giải quyết trong vòng một ngày, chứng minh tính hiệu quả của hòa giải. Tranh chấp về xây dựng chiếm khoảng 40% số vụ việc SMC giải quyết. Các loại tranh chấp khác bao gồm bất đồng về ngân hàng, hợp đồng, công ty, việc làm, công nghệ thông tin, bảo hiểm, quan hệ đối tác, vận chuyển và thuê nhà.
Thứ hai, về tên gọi của tổ chức hòa giải thương mại.
Khoản 1, Điều 20 NĐ số 22/2017/NĐ-CP quy định tên gọi của tổ chức hòa giải thương mại phải có cụm từ “Trung tâm hòa giải thương mại”. Tác giả cho rằng, quy định tên gọi của tổ chức hòa giải phải có cụm từ “thương mại” có phần gò bó và không cần thiết; tác giả không thấy được mục đích cụ thể của việc này. Ngay như trong Luật TTTM năm 2010, một văn bản có nhiều nội dung tương đồng với NĐ số 22/2017/NĐ-CP, không hề có quy định nào về tên tổ chức trọng tài phải có cụm từ “thương mại”. Một tổ chức trọng tài rất lớn là Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) cũng không hề có chữ “thương mại” trong tên gọi của họ. Tham khảo thực tiễn thế giới cũng cho thấy nhiều tổ chức hòa giải ở các quốc gia khác không phải lúc nào cũng có cụm từ “thương mại” trong tên gọi của mình; ví dụ như “Trung tâm hòa giải Singapore” (SMC), “Trung tâm hòa giải quốc tế Singapore” (SIMC) “Trung tâm hòa giải Hồng Kông” (HKMC)…
Ngoài ra, Khoản 3 Điều 34 NĐ số 22/2017/NĐ-CP có quy định tên chi nhánh/văn phòng đại diện của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài phải bao gồm cụm từ “Chi nhánh”/ “Văn phòng đại diện” và tên của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài; và tên chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài phải đảm bảo phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 20 Nghị định này. Như vậy, nếu tổ chức hòa giải nước ngoài không có chữ “thương mại” trong tên gọi, khi hoạt động ở Việt Nam thì tên gọi của họ sẽ được giải quyết như thế nào. Theo quan điểm của tác giả, pháp luật nên bỏ quy định tên gọi tổ chức hòa giải thương mại phải có cụm từ “thương mại” trong tên gọi của mình.
Thứ ba, về số lượng sáng lập viên khi thành lập Trung tâm hòa giải thương mại.
Hiện nay, NĐ số 22/2017/NĐ-CP không hề quy định một Trung tâm hòa giải thương mại khi thành lập thì cần có tối thiểu bao nhiêu sáng lập viên. Điều đó dẫn tới cách hiểu, một Trung tâm hòa giải thương mại khi thành lập chỉ cần một hòa giải viên duy nhất, đồng thời là Chủ tịch Trung tâm. Theo quan điểm của tác giả, nên bổ sung quy định về số lượng sáng lập viên tối thiểu cần có khi thành lập Trung tâm hòa giải thương mại là năm người đủ điều kiện là hòa giải viên (tương tự quy định của Luật TTTM năm 2010). Điều này sẽ giúp cho hoạt động của Trung tâm hòa giải thương mại sau khi thành lập được thuận lợi hơn, bởi không phải vụ việc nào cũng chỉ có một hòa giải viên tham gia giải quyết; có nhiều trường hợp, các bên tranh chấp muốn một hội đồng hòa giải có ba hoặc năm hòa giải viên tham gia giải quyết vụ việc của họ.
Thứ tư, về điều lệ của Trung tâm hòa giải thương mại.
Khoản 4, Điều 19 NĐ số 22/2017/NĐ-CP quy định cơ cấu tổ chức của Trung tâm hòa giải thương mại do điều lệ Trung tâm quy định. Tuy nhiên, cả NĐ số 22/2017/NĐ-CP cũng như Thông tư số 02/2018/TT-BTP của Bộ Tư pháp ban hành và hướng dẫn một số biểu mẫu về tổ chức và hoạt động hòa giải thương mại đều không có nội dung nào đề cập đến việc Trung tâm hòa giải thương mại có bắt buộc phải xây dựng điều lệ không, nếu bắt buộc thì phải xây dựng vào thời điểm nào và cần có những nội dung gì trong điều lệ này.
Theo quan điểm tác giả, pháp luật cần quy định chi tiết hơn vế vấn đề điều lệ của Trung tâm hòa giải thương mại. Cụ thể, cần bổ sung thêm dự thảo điều lệ vào danh mục các tài liệu mà chủ thể cần gửi đến Bộ Tư pháp khi nộp hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm hòa giải thương mại (Điều 21 NĐ số 22/2017/NĐ-CP). Ngoài ra, cũng cần quy định cụ thể những nội dung cơ bản cần có trong dự thảo điều lệ này, ví dụ như: tên của Trung tâm hòa giải thương mại; trụ sở chính; lĩnh vực hoạt động; thời gian hoạt động; cơ cấu tổ chức, cơ chế quản trị, tổ chức lại, giải thể Trung tâm hòa giải thương mại; người đại diện theo pháp luật của Trung tâm hòa giải thương mại, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật; tên Chủ tịch Trung tâm hòa giải thương mại và danh sách các sáng lập viên; phương thức thay đổi Chủ tịch và sáng lập viên của Trung tâm hòa giải thương mại; điều kiện kết nạp, khai trừ hòa giải viên; quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên; chế độ lưu trữ hồ sơ, tài liệu; thể thức thông qua điều lệ; thể thức công bố Quy tắc tố tụng của Trung tâm hòa giải;…
Thứ năm, về thủ tục đăng ký hoạt động hòa giải thương mại.
Khoản 1 Điều 22 NĐ số 22/2017/NĐ-CP quy định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày quyết định cấp giấy phép thành lập của Trung tâm hòa giải thương mại có hiệu lực, Trung tâm hòa giải thương mại gửi hồ sơ đăng ký hoạt động đến Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Trung tâm đặt trụ sở. Hết thời hạn này, nếu Trung tâm hòa giải thương mại không đăng ký hoạt động thì Giấy phép thành lập không còn giá trị, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
NĐ số 22/2017/NĐ-CP cũng quy định Trung tâm trọng tài được bổ sung hoạt động hòa giải thương mại phải thực hiện đăng ký thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Trung tâm đăng ký hoạt động. Tuy nhiên, Nghị định này lại không hề quy định thời hạn cụ thể bao nhiêu ngày Trung tâm trọng tài phải đăng ký thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động, và tất nhiên, không hề có chế tài được quy định cho hành vi không đăng ký thay đổi. Câu chuyện tiếp nối là, nếu một Trung tâm trọng tài không đăng ký thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt động như vậy, thì những thỏa thuận hòa giải thành được thực hiện tại Trung tâm trọng tài này có giá trị pháp lý hay không, đó là câu hỏi không dễ trả lời. Tác giả cho rằng, pháp luật cần bổ sung quy định “Trung tâm trọng tài được bổ sung hoạt động hòa giải thương mại phải thực hiện đăng ký thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Trung tâm đăng ký hoạt động trong thời hạn 30 ngày”, tương tự như quy định với Trung tâm hòa giải thương mại tại Khoản 1 Điều 22 NĐ số 22/2017/NĐ-CP.
Thứ sáu, về nghĩa vụ của Trung tâm hòa giải thương mại.
Điểm c, Khoản 2 Điều 24 NĐ số 22/2017/NĐ- CP quy định một trong các nghĩa vụ của Trung tâm hòa giải thương mại là: “Ban hành quy tắc đạo đức và ứng xử của hòa giải viên thương mại”. Việc tổ chức hòa giải có thể ban hành quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của hòa giải viên là điều hợp lý. Tuy nhiên, Nghị định lại không hề quy định đối với các hòa giải viên độc lập thì hoạt động dựa trên quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp nào. Tác giả cho rằng, các cơ quan có thẩm quyền nên ban hành bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp bắt buộc, áp dụng chung cho tất cả hòa giải viên. Các tổ chức hòa giải thương mại có thể sử dụng bộ quy tắc đạo đức chung này, và cũng có thể ban hành quy tắc đạo đức riêng dành cho hòa giải viên thuộc trung tâm mình với những điều kiện và tiêu chuẩn cao hơn.
Thứ bảy, về mối quan hệ giữa hòa giải thương mại và các phương thức giải quyết tranh chấp khác.
Thực tế hiện nay cho thấy, rất nhiều điều khoản giải quyết tranh chấp có nội dung các bên sẽ giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại trước khi đưa vụ việc ra Tòa án hoặc trọng tài thương mại. Vấn đề đặt ra ở đây, nếu đã có thỏa thuận như vậy nhưng một trong các bên lại không thông qua bước hòa giải mà khởi kiện thẳng đến Tòa án, trọng tài thì Tòa án, Trọng tài có thụ lý vụ việc để giải quyết hay không; vấn đề này chưa được làm rõ trong các quy định pháp luật hiện hành.
Khi tham khảo Luật TTTM năm 2010, tác giả nhận thấy Điều 6 có quy định: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”. Tương tự như Luật TTTM, pháp luật hòa giải thương mại nên quy định nội dung sau: “Nếu các bên đã có thỏa thuận hòa giải và cam kết không khởi kiện ra Tòa án hoặc trọng tài trong một thời hạn hợp lý thì Hội đồng trọng tài và Tòa án phải thừa nhận hiệu lực của thỏa thuận đó và từ chối thụ lý vụ việc cho đến hết thời hạn cam kết”. Đây là một nội dung vô cùng quan trọng, bởi việc quy định mối quan hệ giữa hòa giải với Trọng tài, hòa giải với Tòa án sẽ tạo điều kiện thực hiện các điều khoản này một cách dễ dàng và thuận lợi hơn. Điều này cũng góp phần nâng cao vị thế của các Trung tâm hòa giải thương mại, làm các bên tranh chấp tôn trọng thỏa thuận hòa giải do chính mình lập ra.
Thứ tám, về vai trò của nhà nước, pháp luật trong sự phát triển của các Trung tâm hòa giải thương mại tại Việt Nam.
Pháp luật hiện hành chưa cho thấy vai trò thúc đẩy sự phát triển của hoà giải thương mại thông qua các quy định khuyến khích mô hình này. Trên cơ sở nhận thức về lợi ích của phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, thông qua pháp luật cũng như các giải pháp khác, Nhà nước cần có một chính sách nhất quán về việc khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp của họ bằng con đường hòa giải thương mại. Ví dụ như trong lĩnh vực lao động hay đất đai, có thể quy định một số tranh chấp bắt buộc phải thông qua hòa giải trước khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
Nhà nước cũng cần hỗ trợ xúc tiến hình thành một mạng lưới các Trung tâm hòa giải thương mại; đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ hòa giải viên; xây dựng bộ quy tắc về hòa giải. Cần nghiên cứu, tham khảo những bộ quy tắc hòa giải hiện đại và được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại như Bộ Quy tắc hòa giải của UNCITRAL được Đại hội đồng Liên hiệp quốc giới thiệu tháng 12/1980. Ngoài ra, năm 2002, UNCITRAL xuất bản Luật mẫu về Hòa giải thương mại quốc tế. Giống như Luật mẫu của UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế, Luật này được dùng như một bản hướng dẫn và khuyến cáo cho các quốc gia muốn ban hành pháp luật về hòa giải.
Hoà giải thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến trên thế giới, nhưng vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam. NĐ số 22/2017/NĐ-CP mới là văn bản pháp luật hoàn chỉnh đầu tiên quy định một cách tương đối đầy đủ các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động hoà giải thương mại. Mặc dù vậy, có thể thấy các quy định của Nghị định này vẫn còn những tồn tại, vướng mắc, bất cập nhất định. Hoàn thiện pháp luật về hòa giải thương mại nói chung, hoàn thiện pháp luật về tổ chức hòa giải thương mại nói riêng là yêu cầu cần được đặt ra từ thực tiễn hiện nay, để góp phần tạo nên hành lang pháp lý an toàn và thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh trong giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh bằng phương thức hòa giải./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- http://sotuphap.hanoi.gov.vn/Portalview/ trangchitiet.aspx?portalid=1&idmenu= 226&idtin=1358.
- https://sotuphap.hochiminhcity.gov.vn/en/ phong to-chuc/-/asset_publisher /8ow5lbyyc WKx/content/danh-sach-hoa-giai-vien-thuong- mai-vu-viec-to-chuc-hoa-giai-thuong-mai-tren- dia-ban-thanh-pho-ho-chi-minh?101_INSTANC E_8ow5lbyycWKx_enableXemTheoNgay=true.
- https://stp.thuathienhue.gov.vn/?gd= 12& cn=118&tc=5980.
- https://www.sggp.org.vn/de-hoa-giai-thuong- mai-phat-huy-loi-the-680100.html.
- https://www.mediation.com.sg/about-us/ about-smc/.



Trả lời