Mục lục
Quyền được bảo trợ xã hội của người khuyết tật ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường [1]
TÓM TẮT
Pháp luật Việt Nam đã tạo cơ sở pháp lý ghi nhận và bảo đảm quyền được bảo trợ xã hội của người khuyết tật. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số quy định trở nên mâu thuẫn, không khả thi làm ảnh hưởng đến quyền được bảo trợ xã hội của người khuyết tật. Trên cơ sở phân tích và chỉ ra những hạn chế của pháp luật, tác giả kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được bảo trợ xã hội của người khuyết tật.

Quyền được bảo trợ xã hội của người khuyết tật (NKT) là quyền hiến định được ghi nhận tại Khoản 2 Điều 59 Hiến pháp năm 2013“Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”. Quyền này được cụ thể hoá tại Chương VIII Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định về Bảo trợ xã hội đối với NKT; Chương 4 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật (Nghị định số 28/2012/NĐ-CP); Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội (Nghị định số 136/2013/NĐ-CP); Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/09/2017 quy định thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội. Cùng với đó là nhiều thông tư, đề án, kế hoạch… hướng dẫn thực hiện.
Quyền được bảo trợ xã hội của NKT theo pháp luật Việt Nam bao gồm quyền được trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng; quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội; quyền được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng.
1. Thực trạng pháp luật về quyền được bảo trợ xã hội của người khuyết tật
Thứ nhất, quyền được trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng.
Đối tượng NKT có quyền hưởng trợ cấp xã hội (TCXH) hàng tháng được ghi nhận ở Luật NKT năm 2010 và Nghị định số 136/2013/NĐ- CP. Theo Khoản 1 Điều 44 Luật NKT thì NKT đặc biệt nặng và NKT nặng được hưởng TCXH hàng tháng. Còn theo Khoản 6 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP thì NKT đặc biệt nặng, NKT nặng và NKT trẻ em được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Như vậy, theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP thì NKT nhẹ là trẻ em cũng được hưởng TCXH hàng tháng.
Hệ số tính trợ cấp xã hội gồm 3 mức phụ thuộc vào mức độ khuyết tật và độ tuổi. Hệ số 2,5 áp dụng đối với NKT đặc biệt nặng là người cao tuổi hoặc trẻ em (tương đương 670.000 đồng/tháng); hệ số 2,0 áp dụng đối với NKT đặc biệt nặng, NKT nặng là người cao tuổi hoặc trẻ em (tương đương 540.000 đồng/tháng); hệ số 1,5 áp dụng với NKT nặng (tương đương 405.000 đồng/tháng)2. Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định NKT nhẹ là trẻ em cũng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, nhưng Nghị định số 28/2012/NĐ-CP không quy định hệ số mức trợ cấp xã hội hàng tháng đối với NKT nhẹ là trẻ em, nên không có cơ sở tính mức hưởng cho họ.
Mức hưởng trợ cấp hàng tháng của NKT sống tại hộ gia đình được tính bằng hệ số nhân với mức chuẩn trợ giúp xã hội. Mức chuẩn trợ giúp xã hội hiện nay là 270.000 đồng3. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2014 (ngày Nghị định số 136/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) đến ngày 31/12/2020 đã 6 lần tăng lương cơ sở (vào các năm 2012, 2013, 2016, 2017, 2018 và 2019) và 9 lần tăng lương tối thiểu vùng (tăng hàng năm từ 2012 đến 2020) nhưng mức chuẩn trợ cấp xã hội thì vẫn chưa thay đổi. Thực tế, đời sống NKT còn rất nhiều khó khăn, mức trợ cấp xã hội đối với NKT còn thấp, tiền trợ cấp xã hội hàng tháng NKT nhận được không bằng chuẩn nghèo nông thôn (700.000 đồng/người/tháng) và chuẩn nghèo thành thị (900.000 đồng/người/tháng)4.
Căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức trợ cấp xã hội, mức trợ cấp nuôi dưỡng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội khác cao hơn các mức tương ứng kể trên. Như vậy, còn tuỳ thuộc vào tình hình tài chính của từng địa phương thì mức trợ cấp hàng tháng của NKT có thể cao hơn hoặc bằng mức chuẩn mà luật quy định. Tuy nhiên, cũng chỉ có 15/63 tỉnh, thành phố tự cân đối được ngân sách đã chủ động nâng mức trợ cấp hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội cao hơn mức quy định của Chính phủ từ 1,5 – 2.0 lần5.
Gia đình có NKT đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó; người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc NKT đặc biệt nặng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng6. Hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc NKT đặc biệt nặng được hưởng kinh phí hỗ trợ chăm sóc hàng tháng với hệ số 1,07. Như vậy, gia đình nuôi một hay nhiều NKT đặc biệt nặng thì cũng chỉ được hưởng một chế độ. Đối với người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc NKT đặc biệt nặng cũng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng với hệ số 1,5 nếu nhận nuôi một NKT đặc biệt nặng và hệ số 3,0 nếu nhận nuôi từ hai NKT đặc biệt nặng trở lên8. Như vậy, nếu người nhận nuôi dưỡng 2 hay 3 hay 4 NKT đặc biệt nặng… thì cũng chỉ được hưởng hệ số 3,0. Quy định như vậy là không hợp lý và cũng sẽ không khuyến khích được cá nhân nhận nuôi dưỡng NKT đặc biệt nặng. Bởi lẽ, việc nuôi dưỡng, chăm sóc 2 NKT đặc biệt nặng sẽ vất vả hơn nhiều so với việc nuôi dưỡng, chăm sóc 1 NKT đặc biệt nặng, và nếu số lượng NKT đặc biệt nặng được nuôi dưỡng chăm sóc tăng lên 3,4,5… thì sự vất vả, tốn kém còn tăng lên gấp nhiều lần. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho NKT đặc biệt nặng, cho gia đình và người nhận nuôi dưỡng chăm sóc NKT thì nên quy định lại mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng.
Tính đến năm 2019, cả nước có trên 01 triệu NKT nặng và đặc biệt nặng, khoảng 100.000 gia đình, cá nhân nhận chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng và hàng triệu NKT, trẻ em khuyết tật được nuôi dưỡng, chăm sóc trong các cơ sở bảo trợ xã hội9.
Đối với người “tổn thương kép” vừa khuyết tật đặc biệt nặng hoặc khuyết tật nặng vừa mang thai và/hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi được được hưởng cả hai chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng và chế độ hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng. Mức hưởng chế độ hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng phụ thuộc vào sự khó khăn, vất vả của NKT. Hệ số 1,5 áp dụng với NKT đặc biệt nặng, NKT nặng đang mang thai hoặc nuôi 1 con dưới 36 tháng tuổi; hệ số 2,0 áp dụng với NKT đặc biệt nặng, NKT nặng vừa mang thai vừa nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc nuôi từ 2 con trở lên dưới 36 tháng tuổi. Quy định này cũng đảm bảo tinh thần của Công ước Quốc tế về quyền của NKT năm 2007 (CRPD) nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi của NKT nữ10.
Thứ hai, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội.
Khi NKT không có gia đình, không có người nhận chăm sóc thì được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội là một giải pháp tốt đảm bảo cuộc sống cho NKT. Đối tượng NKT được nuôi dưỡng ở cơ sở bảo trợ xã hội được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 45 Luật NKT năm 2010 và Điều 25 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, hai văn bản này quy định không thống nhất với nhau, tạo ra sự lúng túng trong quá trình áp dụng. Khoản 1 Điều 45 Luật NKT năm 2010 quy định “Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội”. Còn theo điểm c Khoản 1 Điều 25 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP thì “Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật”. Như vậy, phạm vi NKT được nuôi dưỡng ở cơ sở bảo trợ xã hội theo Luật NKT năm 2010 hẹp hơn so với Nghị định số 136/2013/NĐ-CP.
Khi sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội, NKT được trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng11. Mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng của NKT sống ở các cơ sở bảo trợ xã hội được tính bằng mức chuẩn trợ cấp xã hội nhân với hệ số tương ứng. Có 2 mức hệ số phụ thuộc vào mức độ khuyết tật và độ tuổi12. Hệ số 4,0 áp dụng với NKT đặc biệt nặng là người cao tuổi hoặc trẻ em; hệ số 3,0 áp dụng với NKT đặc biệt nặng không thuộc hai trường hợp kể trên. Đối với NKT nặng và NKT nhẹ là trẻ em Nghị định số 28/2012/NĐ-CP không quy định hệ số trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng, do đó, không có cơ sở để xác định quyền lợi cho NKT trẻ em trong trường hợp này.
Bên cạnh trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng, NKT sống ở cơ sở bảo trợ xã hội được nhà nước mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày; mua thẻ bảo hiểm y tế; mua thuốc chữa bệnh thông thường; mua dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng; mai táng khi chết; vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với người khuyết tật là nữ.
Nhằm củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội công lập và ngoài công lập cũng như bảo đảm điều kiện tối thiểu tiếp cận đối với NKT thì Bộ trưởng Bộ lao động – Thương binh và xã hội ban hành Quyết định số 1520/QĐ- LĐTBXH ngày 20/10/2015 phê duyệt quy hoạch mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2025. Trong đó đưa ra mục tiêu, giải pháp cụ thể để làm cơ sở thực hiện nhằm ngày càng đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho NKT. Đồng thời, ngày 12/9/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 103/2017/NĐ-CP Quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội, theo đó, cơ sở trợ giúp xã hội công lập và cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập muốn thành lập được phải đảm bảo đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất và nhân sự.
Hiện tại, Việt Nam có 432 cơ sở bảo trợ xã hội (182 cơ sở công lập và 250 cơ sở ngoài công lập), trong đó 67 cơ sở chuyên nuôi dưỡng và chăm sóc NKT. Tổng số NKT được nhận nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội ước tính khoảng gần 20.000 người, bao gồm chủ yếu là trẻ em khuyết tật nặng, người già khuyết tật nặng, NKT dạng tâm thần, trí tuệ13.
Nhà nước khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước thành lập cơ sở trợ giúp xã hội để chăm sóc, trợ giúp đối tượng có nhu cầu trợ giúp xã hội trên lãnh thổ Việt Nam. Cá nhân, tổ chức đầu tư xây dựng cơ sở được hưởng chính sách khuyến khích xã hội hóa theo quy định của pháp luật14. Đến thời điểm hiện nay, khuyến khích xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường được ghi nhận trong Nghị định số 69/2008/NĐ-CP, tuy nhiên khuyến khích xã hội hoá hoạt động trợ giúp xã hội lại không được đề cập trong Nghị định này.
Thứ ba, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng.
Nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng là việc hộ gia đình trực tiếp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại hộ gia đình mình15. Quy định NKT được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tạo cơ hội cho NKT được hoà nhập cộng đồng. Quy định này cũng phù hợp với tinh thần của Liên hợp quốc “Khi gia đình ruột thịt của trẻ khuyết tật không thể chăm sóc trẻ, quốc gia thành viên tiến hành mọi nỗ lực để cung cấp sự chăm sóc thay thế trong gia đình lớn hơn của trẻ, nếu không được, thì chăm sóc tại cộng đồng ở một nơi bố trí như gia đình” 16.
Theo điểm c Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP thì đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng gồm trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng; NKT đặc biệt nặng17. Thực tế, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em khuyết tật nhẹ không có nguồn nuôi dưỡng cũng có nhu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng. So sánh với Công ước quốc tế về quyền của NKT, Liên hợp quốc đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của trẻ em khuyết tật18, còn pháp luật Việt Nam mới chỉ dành nhiều sự quan tâm cho NKT đặc biệt nặng mà chưa thực sự chú ý đến trẻ em khuyết tật.
Để đảm bảo NKT được chăm sóc tốt thì cá nhân, gia đình nhận nuôi NKT đặc biệt nặng phải đáp ứng một số điều kiện: có chỗ ở ổn định và không thuộc diện hộ nghèo; có sức khỏe để thực hiện chăm sóc NKT; có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt, không mắc tệ nạn xã hội và không thuộc đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích; có kỹ năng để chăm sóc NKT19. Người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng NKT sẽ không được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng NKT khi có hành vi như đối xử tệ bạc với NKT, lợi dụng việc chăm sóc, nuôi dưỡng để trục lợi; có tình trạng kinh tế hoặc lý do khác dẫn đến không còn bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng NKT; vi phạm nghiêm trọng quyền của NKT20. Quy định về điều kiện đối với người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc NKT như trên là rất hợp lý, tuy nhiên đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của họ đối với NKT. Thiết nghĩ, nhà nước dành cho họ hưởng hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng thì cũng nên quy định nghĩa vụ nhằm ràng buộc trách nhiệm của người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng với NKT.
NKT được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng được trợ cấp hàng tháng bằng mức hỗ trợ cho NKT sống ở cơ sở bảo trợ xã hội; được cấp thẻ BHYT miễn phí; được trợ giúp giáo dục, đào tạo, dạy nghề; được hỗ trợ chi phí mai táng21. Đồng thời người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng NKT cũng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng22.
2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền được bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Thứ nhất, Luật NKT năm 2010 cần bổ sung NKT trẻ em thuộc đối tượng trợ cấp xã hội hàng tháng và thuộc đối tượng được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội.
Quy định như vậy sẽ tạo sự thống nhất với Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, cũng như có cơ sở để Nghị định số 28/2012/NĐ- CP quy định hệ số trợ cấp xã hội hàng tháng và hệ số mức trợ cấp nuôi dưỡng NKT nặng và NKT nhẹ là trẻ em.
Thứ hai, để đảm bảo quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em khuyết tật thì Điều 18 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP cần mở rộng đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng bao gồm NKT là trẻ em (chứ không chỉ là NKT đặc biệt nặng là trẻ em như quy định hiện nay). Quy định như vậy sẽ bảo đảm quyền lợi của trẻ em khuyết tật và phù hợp với Công ước Quốc tế về quyền của NKT.
Thứ ba, để đảm bảo quyền lợi của NKT, gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc NKT đặc biệt nặng và đối với người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc NKT đặc biệt nặng thì nên quy định mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng phụ thuộc vào số NKT được nhận chăm sóc. Đối với gia đình có NKT đặc biệt nặng và đang nuôi dưỡng họ thì được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng với hệ số 1,0/NKT; đối với người nhận nuôi dưỡng chăm sóc NKT đặc biệt nặng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng với hệ số 1,5/NKT.
Thứ tư, vừa để đảm bảo mức sống của các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có NKT vừa không tạo gánh nặng quá lớn với ngân sách nhà nước thì Nhà nước nên tăng mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng theo lộ trình.
Thứ năm, mở rộng phạm vi chính sách xã hội hoá trong lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với NKT. Nghị định số 69/2008/NĐ-CP quy định về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường cần bổ sung khuyến khích xã hội hoá đối với các cá nhân, tổ chức đầu tư cho các mô hình phi lợi nhuận chăm sóc NKT, nhất là NKT nặng, NKT đặc biệt nặng, phụ nữ khuyết tật, trẻ em khuyết tật, NKT cao tuổi.
Thứ sáu, bổ sung quy định trách nhiệm của người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng NKT cũng như trách nhiệm của nhân viên trực tiếp chăm sóc NKT tại cơ sở chăm sóc NKT. Để đảm bảo NKT được tôn trọng và chăm sóc tốt thì nên quy định rõ trách nhiệm của người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng NKT tại cộng đồng; trách nhiệm của nhân viên trực tiếp chăm sóc NKT tại cơ sở chăm sóc NKT. Thứ bảy, nhằm bảo đảm quyền của NKT, Nhà nước đã ban hành nhiều đề án, kế hoạch, chương trình được thực hiện theo từng giai đoạn. Để các chính sách pháp luật có tính khả thi thì các chính sách đó phải phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của NKT. Do đó, khi xây dựng các chính sách về quyền NKT cần có sự tham vấn công chúng rộng rãi. Trước hết, cần tham vấn ý kiến của NKT, đối với NKT trẻ em quá nhỏ tuổi hoặc NKT trí tuệ thì cần thiết phải tham vấn bố mẹ của họ. Bên cạnh đó phải tham khảo ý kiến của tổ chức của NKT và vì NKT. Cuối cùng là tham vấn các cá nhân, tổ chức quản lý, cung cấp các dịch vụ NKT sử dụng bởi họ sẽ hiểu rõ nhu cầu của NKT cũng như những vướng mắc pháp lý trong quá trình thực thi. Trên cơ sở đó, các nhà lập pháp sẽ đánh giá các ý kiến và soạn thảo, xây dựng các chính sách, điều đó sẽ đảm bảo cho sự thành công của chính sách pháp luật về NKT./.
CHÚ THÍCH
- Thạc sỹ, Giảng viên Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên.
- Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.
- Điều 4 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP.
- Điểm a Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
- Báo cáo của Bộ LĐTBXH về tình hình thực hiện Luật người khuyết tật năm 2016.
- Khoản 2 Điều 44 Luật NKT năm 2010.
- Khoản 3 Điều 17 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.
- Khoản 4 Điều 17 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.
- http://www.molisa.gov.vn/Pages/tintuc/chitiet.aspx?tintucID=222183
- Điểm b Khoản 2 Điều 28 CRPD “Bảo đảm quyền của người khuyết tật, đặc biệt là phụ nữ và bé gái khuyết tật… được hưởng các chương trình phúc lợi xã hội…”.
- Khoản 2 Điều 45 Luật NKT năm 2010.
- Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.
- Báo cáo quốc gia lần thứ nhất về thực thi Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, Đoạn 104.
- Điều 3 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP Quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội.
- Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP.
- Khoản 5 Điều 23 CRPD.
- Điểm c Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP.
- Khoản 5 Điều 23 CRPD.
- Điều 19 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.
- Khoản 3 Điều 24 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP.
- Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP.
- Khoản 4 Điều 17 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Báo cáo quốc gia lần thứ nhất về thực thi Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật.
- Báo cáo của Bộ Lao động – Thương Binh và xã hội về tình hình thực hiện Luật người khuyết tật năm 2016.
- Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2007.
- http://www.molisa.gov.vn/Pages/tintuc/ chitiet.aspx?tintucID=222183.






Trả lời