• Trang chủ
  • Hiến pháp
  • Hình sự
  • Dân sự
  • Hành chính
  • Hôn nhân gia đình
  • Lao động
  • Thương mại

Luật sư Online

Tư vấn Pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, ly hôn, thừa kế, đất đai

  • Kiến thức chung
    • Học thuyết kinh tế
    • Lịch sử NN&PL
  • Cạnh tranh
  • Quốc tế
  • Thuế
  • Ngân hàng
  • Đất đai
  • Ngành Luật khác
    • Đầu tư
    • Môi trường
 Trang chủ » Quyền lợi của đương sự vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm khi các đương sự khác có mặt thỏa thuận với nhau giải quyết vụ án

Quyền lợi của đương sự vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm khi các đương sự khác có mặt thỏa thuận với nhau giải quyết vụ án

25/10/2021 25/10/2021 CTV. Nguyễn Thị Thanh Hân Leave a Comment

Mục lục

  • TÓM TẮT
  • 1. Thực tiễn áp dụng quy định về công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm
    • 1.1. Sự vắng mặt của một trong các bị đơn trong vụ án có nhiều bị đơn mà các bị đơn có mặt lại thỏa thuận được với các đương sự khác về giải quyết vụ án
    • 1.2. Sự vắng mặt của nguyên đơn tại phiên  tòa sơ thẩm nhưng các đương sự có mặt thỏa  thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án
    • 1.3. Sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • 2. Giải pháp đề xuất giải quyết vụ án có nhiều bị đơn mà có bị đơn vắng mặt trong khi các đương sự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án
    • 2.1. Phương hướng tiếp cận và xử lý việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa
  • CHÚ THÍCH

Quyền lợi của đương sự vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm khi các đương sự khác có mặt thỏa thuận với nhau giải quyết vụ án

Tác giả: Ngô Thị Mỹ Hạnh [1]

TÓM TẮT

Việc có mặt của đương sự khi tham gia tố tụng tại Tòa án đóng vai trò quan trọng. Từ khi thụ lý vụ án, lấy lời khai, yêu cầu cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên tòa sơ thẩm thì sự có mặt hay vắng mặt của đương sự sẽ phát sinh những hậu quả pháp lý khác nhau. Đặc biệt là trong vụ án có nhiều đương sự (nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) mà có một trong các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng các đương sự có mặt thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Bài viết nghiên cứu về thực tiễn áp dụng quy định về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa, trao đổi một số vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Quyền lợi của đương sự vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm khi các đương sự khác có mặt thỏa thuận với nhau giải quyết vụ án

1. Thực tiễn áp dụng quy định về công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm

1.1. Sự vắng mặt của một trong các bị đơn trong vụ án có nhiều bị đơn mà các bị đơn có mặt lại thỏa thuận được với các đương sự khác về giải quyết vụ án

Thông thường, khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án luôn tôn trọng và khuyến khích cũng như tạo mọi điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đặc biệt là thẩm phán chủ tọa phiên tòa luôn hỏi các đương sự có mặt là có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hay không? Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì các bước tiến hành được mô phỏng như sau:

Xem thêm tài liệu liên quan:

  • Bình luận án lệ 12/2017/AL: Xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa
  • Người bảo vệ quyền, lợi ích của bị hại, đương sự trong tố tụng hình sự
  • Một số điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về bị hại, đương sự trong vụ án hình sự
  • Bàn về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự theo Hệ thống pháp luật Anh - Mỹ

Tuy nhiên, thực tiễn tại các phiên tòa sơ thẩm của Tòa án nhân dân hai cấp ở tỉnh Sóc Trăng nói riêng cũng như tham khảo các bản án của Tòa án nhân dân các cấp trên cả nước thông qua phương tiện truyền thông là cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao thì gần như không phải phiên tòa nào cũng có mặt đầy đủ đương sự mà sẽ có phiên tòa vắng mặt một trong các bị đơn (vụ án có đồng bị đơn) hay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Trên thực tế, sẽ phát sinh tình huống “vắng mặt bị đơn” như sau:

Ví dụ 1: Vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của tòa án nhân dân thị xã X, tỉnh S giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H với các đồng bị đơn là vợ chồng ông Huỳnh Văn Tr và bà Lê Thị T. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì phiên tòa lần thứ nhất mở vào ngày 03/03/2021 nhưng sau đó phiên tòa hoãn do các bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Đến phiên tòa lần thứ hai vào ngày 15/3/2021, thì bà T có mặt, ông Tr vẫn vắng mặt không có lý do nên vẫn tiến hành mở phiên tòa theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa ngày 15/3/2021, phát sinh tình tiết mới là ông H và bà T thỏa thuận là bà T sẽ thanh toán số tiền mà vợ chồng đã nợ ông H là 120 triệu đồng (do ông H cho vợ chồng bà T- ông Tr trả số nợ làm 07 lần với thời hạn thanh toán từ ngày 30/04/2021 đến ngày 30/4/2024). Tuy nhiên, vấn đề khó xử lý ở đây là sự vắng mặt ông Tr (chồng bà T) phải được xử lý như thế nào? Tình huống pháp lý này hiện có 03 cách tiếp cận xử lý như sau:

Quan điểm thứ nhất: Hội đồng xét xử ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ngay lúc thỏa thuận xong. Bởi vì các đương sự (có mặt) đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Tức là, đã đủ điều kiện về nội dung, việc vắng mặt của ông Tr chính là sự vi phạm nghĩa vụ có mặt tại phiên tòa (hình thức), và ông Tr phải chịu trách nhiệm cho việc không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án. Mặt khác, bà T và Tr là vợ chồng, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau và đồng thời người vợ cũng có quyền đại diện cho chồng nên việc công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Tr. Hội đồng xét xử ra Quyết định công nhận sự tự nguyện của đương sự (bà T) là đúng quy định tại Điều 246 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015.

Quan điểm thứ hai:Hội đồng xét xử sơ thẩm chỉ có thể “ghi nhận2” ý chí tự nguyện của bà T để làm căn cứ xác định sự thật khách quan của vụ án, không ra “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự” như quy định tại Điều 246 của BLTTDS năm 2015. Bởi vì, sự đồng ý thừa nhận của bà T (thực hiện thay nghĩa vụ cho ông Tr) trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Tr nên Hội đồng xét xử không ban hành “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự”.

Quan điểm thứ ba: Nếu hồ sơ vụ án có tài liệu chứng cứ thể hiện ý chí của ông Tr là thống nhất và không có sự mâu thuẫn về việc thừa nhận  số nợ mà vợ chồng bà T và ông Tr đã nợ ông  Nguyễn Văn H thì Hội đồng xét xử căn cứ vào tài  liệu chứng cứ đã có trong hồ sơ (phù hợp với ý  chí tự nguyện của ông H đã trình bày), Hội đồng  xét xử ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của  bà T và ông Tr, theo đó toàn bộ nghĩa vụ của ông  Tr sẽ được bà T đảm bảo thực hiện. Nhưng theo  tác giả thì giải pháp này mang tính rủi ro và dễ vi  phạm tố tụng dẫn đến bản án/quyết định có thể bị  hủy vì chỉ cần sau này ông Tr kháng cáo/đề nghị  xét lại bản án/quyết định theo thủ tục giám đốc  thẩm và cho rằng ý chí tại hồ sơ không đúng với  những gì ông trình bày.

1.2. Sự vắng mặt của nguyên đơn tại phiên  tòa sơ thẩm nhưng các đương sự có mặt thỏa  thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án

Nguyên đơn chính là người khởi kiện, nếu  nguyên đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mà  không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng  minh là có lý do chính đáng, vắng mặt không vì sự  kiện bất khả kháng hoặc không có người đại diện  tham gia phiên tòa như quy định tại điểm a Khoản  2 của Điều 227 của BLTTDS năm 2015 thì được  xem là “từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết  định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi  kiện của người đó3, trừ trường hợp người đó có  đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có  quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật”.  Tuy nhiên, thực tế phát sinh tình huống sau:

Ví dụ 2: Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài  sản giữa nguyên đơn là bà La Thị A và bị đơn là  bà Nguyễn Thị B; Người có quyền lợi, nghĩa vụ  liên quan là Ông Lê Văn T (chồng bà A), số tiền  bà A yêu cầu khởi kiện bà B phải trả là 990 triệu  đồng kèm lãi suất theo quy định của pháp luật.  Do bận công việc, nên phiên tòa sơ thẩm ngày  03/3/2021 (sau khi hoãn) bà A không tham dự  phiên tòa và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Sau  đó tại phiên tòa, bị đơn bà B và ông T đã thỏa  thuận là đúng 1 tháng sau thì bà B sẽ hoàn trả  đúng nợ gốc và lãi suất cho bà A đầy đủ, ông T  đề nghị được trả tiền ngay tại phiên tòa vì không  dám mang số tiền lớn ra khỏi Tòa. Hội đồng xét xử không ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận này của đương sự mà phải tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu bà A có mặt để cùng thỏa thuận. Sau khi tạm ngừng phiên tòa xong thì khoảng 07 ngày sau bà B có văn bản thay đổi ý kiến không đồng ý trả nợ cho bà A và ông T nữa.

Ví dụ 3: Vụ án tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông A và bà A1 với các bị đơn là ông B và bà B1 đối với quyền sử dụng đất tranh chấp có diện tích là 96 m2 tọa lạc tại Khu thương mại Trung tâm thị xã X, tỉnh S. Tại phiên tòa ngày 12/01/2021 (lần hai) ông A, ông B vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn A1 và bị đơn B1 thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, theo đó thì bà B đồng ý sẽ chuyển nhượng phần đất tranh chấp cho các nguyên đơn A-A1 sau 15 ngày kể từ ngày thỏa thuận hôm nay. Tuy nhiên, do ngày 12/01/2021 ông B vắng mặt nên Hội đồng xét xử không ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

1.3. Sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015 là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong một số trường hợp có vai trò rất quan trọng và thậm chí là ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ án nên sự có mặt của họ tại phiên tòa khi thỏa thuận là rất cần thiết.

Ví dụ 4: Vụ án tranh chấp về đòi lại quyền sử dụng đất 3.000 m2 (nằm trong diện tích 10.000 m2, tại thửa số 487, tờ bản đồ số 2) giữa A và B, phần đất B đang quản lý sử dụng chính là phần đất mà theo nguyên đơn A cho rằng là cầm cố chứ không chuyển nhượng cho B (nhưng B lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Sau đó B lại thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên cho Ngân hàng X. Tòa án đưa ngân hàng X tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Ngân hàng X có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa A và B thỏa thuận được với nhau rằng B sẽ hoàn trả cho A 2.000 m2 trong tổng số 3.000 m2 mà A khởi kiện, kể cả về án phí B cũng đồng ý chịu. Tuy nhiên, do  Ngân hàng X là người nhận thế chấp 10.000 m2 nêu trên Hội đồng xét xử không thể ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

2. Giải pháp đề xuất giải quyết vụ án có nhiều bị đơn mà có bị đơn vắng mặt trong khi các đương sự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án

2.1. Phương hướng tiếp cận và xử lý việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa

Có thể nhận thấy, việc thỏa thuận tại “Phiên  tòa sơ thẩm” có sự khác biệt với sự thỏa thuận  của các đương sự tại “Phiên họp kiểm tra việc  giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa  giải”. Sự khác biệt này được thể hiện ở khía cạnh  là nếu tại phiên họp nêu trên có đương sự vắng  mặt tại phiên hòa giải thì thẩm phán sẽ xử lý theo  Khoản 3 Điều 209 BLTTDS năm 2015, cụ thể là:  “3. Trong trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều  210 của Bộ luật này mà các đương sự có mặt thỏa  thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì  thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người  có mặt và được thẩm phán ra quyết định công  nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ  của đương sự vắng mặt. Trường hợp thỏa thuận  của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của  đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá  trị và được thẩm phán ra quyết định công nhận  nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải  đồng ý bằng văn bản”. Như vậy, việc đồng ý  bằng văn bản chính là sự thừa nhận của đương sự  vắng mặt đối với kết quả hòa giải và tất nhiên là  họ phải chịu hậu quả pháp lý cho việc đồng ý này. Tuy nhiên, Điều 246 của BLTTDS năm 2015  quy định về giải pháp này và cũng không có bất  cứ nội dung nào của Điều luật dẫn chiếu đến  Điều 209 và 210 của BLTTDS năm 2015. Điều  này dẫn đến mỗi Tòa án tại địa phương có cách  giải quyết khác nhau (theo từng quan điểm đã  phân tích phần trên) với những hình thức ghi  nhận/công nhận sự thỏa thuận và giá trị pháp lý  của việc ghi nhận này cũng không thống nhất để  sau này thi hành án. Hậu quả pháp lý của Quyết  định công nhận sự thỏa thuận của đương sự và  bản án sơ thẩm cũng rất khác nhau. Vì “Quyết  định công nhận sự thỏa thuận của đương sự” không bị kháng cáo/kháng nghị theo thủ tục phúc  thẩm còn bản án sơ thẩm thì bị kháng cáo/kháng  nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Nếu theo quan điểm thứ nhất như phần 1.1 nêu trên, khi Hội đồng xét xử sơ thẩm ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự H và T thì đã tước đi quyền kháng cáo của bị đơn Tr. Nhưng nếu Hội đồng xét xử chỉ “ghi nhận sự tự nguyện của bà T” vào trong bản án sơ thẩm thì hậu quả pháp lý của sự thừa nhận có làm phát sinh sự kiện pháp lý giữa T và Tr sau này hay không? Nếu bà T muốn khởi kiện lại ông Tr để thanh toán cho phần nghĩa vụ đã thanh toán thay hay không? Hoặc đến giai đoạn thi hành án do không đủ điều kiện thi hành án tự nguyện mà Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên luôn tài sản riêng của ông Tr được hay không? Trong trường hợp nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt như ví dụ tại mục 1.2 nêu trên cũng sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý khác nhau, rất khó để Hội đồng xét xử ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Từ những phân tích nêu trên, tác giả đề xuất hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về quy định tại Điều 246 của BLTTDS năm 2015 như sau: Khi áp dụng pháp luật cần xác định rõ và thể hiện việc “tôn trọng ý kiến và quyền của đương sự vắng mặt”. Nếu ở giai đoạn tranh luận tại phiên tòa mà các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì Hội đồng xét xử quay lại phần thủ tục hỏi tại phiên tòa hoặc nếu ở phần thủ tục hỏi tại phiên tòa mà các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 259 BLTTDS năm 2015 ra Quyết định tạm ngừng phiên tòa Hội đồng xét xử ấn định thời gian cần thiết để cho đương sự vắng mặt có ý kiến bằng văn bản là “đồng ý” hay “không đồng ý” với sự thỏa thuận của đương sự có mặt tại tòa4. Nếu trong thời hạn này mà “đương sự vắng mặt” đồng ý thì Hội đồng xét xử ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Nếu sau 07 ngày mà “đương sự vắng mặt” không đồng ý với sự thỏa thuận hoặc không thể hiện ý kiến thì Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ tiếp tục xét xử và ra bản án sơ thẩm. 2.2. Kiến nghị bổ sung quy định về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm Từ những phân tích tại mục 1 và 2.1 bài viết này, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 246 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như sau:

“Điều 246. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

1/ Nếu các đương sự trong vụ án đều có mặt tại phiên tòa sơ thẩm,Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có mặt có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không; trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án.

2/ Trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm nếu có đương sự vắng mặt nhưng các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Tòa án phải gửi văn bản cho đương sự vắng mặt biết về nội dung các đương sự có mặt đã thỏa thuận được tại phiên tòa. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án, nếu đương sự vắng mặt đồng ý hoặc không có ý kiến phản đối với sự thỏa thuận thì Hội đồng xét xử ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Nếu đương sự vắng mặt không đồng ý thì Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Trường hợp, các đương sự có mặt tiếp tục thỏa thuận thì Hội đồng xét xử ghi nhận ý chí tự nguyện của những người có mặt vào trong bản án theo quy định của pháp luật.

3/ Trường hợp Hội đồng xét xử ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án thì Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 213 của Bộ luật này.

Có thể nói việc đương sự vắng mặt tại phiên tòa đã được Bộ luật tố tụng dân sự điều chỉnh tương đối cụ thể bằng việc quy định chi tiết ở từng điều luật, theo từng giai đoạn tố tụng. Tuy nhiên, những thiếu sót quy định đối với sự vắng mặt của đương sự trong khi các đương sự có mặt thỏa thuận giải quyết vụ án tại phần thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm như đã phân tích nêu trên sẽ dẫn đến việc gây khó khăn, lúng túng cho Tòa án địa phương, đồng thời không đảm bảo tính áp dụng thống nhất của pháp luật, làm cho vụ án kéo dài thời hạn không cần thiết. Việc sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 246 của BLTTDS năm 2015 sẽ khắc phục những hạn chế nêu trên, góp phần đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của Bộ luật tố tụng dân sự./.

CHÚ THÍCH

  1. Thẩm phán, Phó chánh án Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
  2. “Ghi nhận” là thuật ngữ pháp lý xuất hiện ở giai đoạn thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, khác với “Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm”.
  3. Nếu vụ án có yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì vẫn phải xem xét các yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập này.
  4. Nếu bị đơn Tr có mặt tại Tòa án trong thời hạn 07 ngày thì sẽ càng thuận lợi cho việc giải quyết vụ án.
Chia sẻ bài viết:
  • Share on Facebook

Bài viết liên quan

Bàn về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự theo Hệ thống pháp luật Anh - Mỹ
Bàn về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự theo Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ
Một số điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về bị hại, đương sự trong vụ án hình sự
Một số điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về bị hại, đương sự trong vụ án hình sự
Bình luận án lệ 12/2017/AL: Xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa
Bình luận án lệ 12/2017/AL: Xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa
Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về Người bảo vệ quyền, lợi ích của bị hại, đương sự 
Người bảo vệ quyền, lợi ích của bị hại, đương sự trong tố tụng hình sự

Chuyên mục: Dân sự/ Luật Dân sự Việt Nam Từ khóa: Đương sự

Previous Post: « Luật Tố tụng hành chính – Phương tiện kiểm soát hoạt động hành chính nhìn nhận dưới góc độ bảo đảm công bằng và công lý
Next Post: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại ở Việt Nam »

Reader Interactions

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Primary Sidebar

Tìm kiếm nhanh tại đây:

Tài liệu học Luật

  • Trắc nghiệm Luật | Có đáp án
  • Nhận định Luật | Có đáp án
  • Bài tập tình huống | Đang cập nhật
  • Đề cương ôn tập | Có đáp án
  • Đề Thi Luật | Cập nhật đến 2021
  • Giáo trình Luật PDF | MIỄN PHÍ
  • Sách Luật PDF chuyên khảo | MIỄN PHÍ
  • Sách Luật PDF chuyên khảo | TRẢ PHÍ
  • Từ điển Luật học Online| Tra cứu ngay

Tổng Mục lục Tạp chí ngành Luật

  • Tạp chí Khoa học pháp lý
  • Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
  • Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
  • Tạp chí Kiểm sát
  • Tạp chí nghề Luật

Chuyên mục bài viết:

  • An sinh xã hội
  • Cạnh tranh
  • Chứng khoán
  • Cơ hội nghề nghiệp
  • Dân sự
    • Luật Dân sự Việt Nam
    • Tố tụng dân sự
    • Thi hành án dân sự
    • Hợp đồng dân sự thông dụng
    • Pháp luật về Nhà ở
    • Giao dịch dân sự về nhà ở
    • Thừa kế
  • Doanh nghiệp
    • Chủ thể kinh doanh và phá sản
  • Đất đai
  • Giáo dục
  • Hành chính
    • Luật Hành chính Việt Nam
    • Luật Tố tụng hành chính
    • Tố cáo
  • Hiến pháp
    • Hiến pháp Việt Nam
    • Hiến pháp nước ngoài
    • Giám sát Hiến pháp
  • Hình sự
    • Luật Hình sự – Phần chung
    • Luật Hình sự – Phần các tội phạm
    • Luật Hình sự quốc tế
    • Luật Tố tụng hình sự
    • Thi hành án hình sự
    • Tội phạm học
    • Chứng minh trong tố tụng hình sự
  • Hôn nhân gia đình
    • Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam
    • Luật Hôn nhân gia đình chuyên sâu
  • Lao động
  • Luật Thuế
  • Môi trường
  • Ngân hàng
  • Quốc tế
    • Chuyển giao công nghệ quốc tế
    • Công pháp quốc tế
    • Luật Đầu tư quốc tế
    • Luật Hình sự quốc tế
    • Thương mại quốc tế
    • Tư pháp quốc tế
    • Tranh chấp Biển Đông
  • Tài chính
    • Ngân sách nhà nước
  • Thương mại
    • Luật Thương mại Việt Nam
    • Thương mại quốc tế
    • Pháp luật Kinh doanh Bất động sản
    • Pháp luật về Kinh doanh bảo hiểm
    • Nhượng quyền thương mại
  • Sở hữu trí tuệ
  • Kiến thức chung
    • Đường lối Cách mạng ĐCSVN
    • Học thuyết kinh tế
    • Kỹ năng nghiên cứu và lập luận
    • Lý luận chung Nhà nước – Pháp luật
    • Lịch sử Nhà nước – Pháp luật
    • Lịch sử văn minh thế giới
    • Logic học
    • Pháp luật đại cương
    • Tư tưởng Hồ Chí Minh
    • Triết học

Quảng cáo:

Copyright © 2022 · Luật sư Online · Giới thiệu ..★.. Liên hệ ..★.. Tuyển CTV ..★.. Quy định sử dụng